Thứ Sáu, 28/7/2017
Phát triển nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam: Thực trạng và những thách thức
25/4/2017 23:23' Gửi bài này In bài này
Ảnh minh họa - Nguồn: baodansinh.vn
Thực trạng nguồn nhân lực nữ

Theo số liệu Điều tra lao động và việc làm Việt Nam của Tổng cục Thống kê năm 2012, trong hơn 67 triệu lao động ở độ tuổi từ 15 trở lên, có 48,5% lao động nữ và điều đáng chú ý là tỷ lệ nhân lực nữ tham gia lực lượng lao động chiếm đa số dân số nữ.

Về cơ cấu nguồn nhân lực nữ: Theo số liệu thống kê tính đến 01-01-2013, nguồn nhân lực nữ của cả nước có xu hướng tăng lên, nhưng nếu xét về cơ cấu vùng lãnh thổ thì lực lượng lao động nữ nước ta tập trung ở khu vực nông thôn (chiếm tới 69,5%), sự phân bố lực lượng lao động nữ chưa đồng đều giữa các khu vực và vùng miền.


Xét theo cơ cấu độ tuổi, lao động nữ chủ yếu tập trung trong độ tuổi 15-24, chiếm 14% so sánh với các nhóm tuổi khác trong cơ cấu dân số nữ từ 15 tuổi trở lên. Điều này phản ánh nguồn lao động nữ đang ở độ tuổi sung sức, có nhiều thuận lợi trong tham gia hoạt động kinh tế vì chưa vướng bận gia đình, có điều kiện và cơ hội để tăng học vấn và kỹ năng nghề nghiệp.


Tuy nhiên, tỷ lệ nữ thiếu việc làm và tỷ lệ nữ thất nghiệp còn cao: ở khu vực thành thị là 43,1%, khu vực nông thôn là 44,7%. Trong bối cảnh yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa cũng như yêu cầu sự chuyên môn hóa, tinh thông nghề nghiệp, tính chuyên nghiệp ngày càng cao thì việc bảo đảm việc làm cho nguồn nhân lực nữ trong độ tuổi lao động và thu nhập bền vững đang là một quan ngại đối với các nhà lãnh đạo, quản lý.


Cơ cấu lực lượng lao động nữ có việc làm theo khu vực kinh tế và loại hình kinh tế: Lao động nữ chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp (49,2%), các ngành công nghiệp và xây dựng chỉ chiếm 17%. Lao động nữ tham gia rất thấp ở các ngành công nghiệp nặng, khai khoáng, khoa học kỹ thuật. Lý giải cho sự thiên lệch theo giới trong các khu vực kinh tế là thể hiện sự khác biệt giới trong nghề nghiệp.


Chất lượng nguồn nhân lực nữ


Về sức khỏe: Theo số liệu của Học viện Phụ nữ Việt Nam, qua khảo sát 2.398 nhân lực nữ, có 75,9% được hỏi cho rằng đủ sức khỏe để hoàn thành công việc, 23% cảm thấy công việc là nặng nhọc đối với sức khỏe. Tuy nhiên, có sự khác biệt về sức khỏe theo nhóm tuổi. Thông thường ở độ tuổi càng trẻ thì có sức khỏe tốt và cùng với thời gian thì sức khỏe của nhân lực nữ giảm sút cũng là phù hợp với quy luật khách quan về đường đời của con người. Bên cạnh đó, có sự khác biệt về sức khỏe giữa nguồn nhân lực nữ theo khu vực/lĩnh vực lao động; và theo nhóm học vấn …; lao động nữ ở khu vực kinh tế chính thức có tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp thấp hơn so với khu vực kinh tế phi chính thức (5,8% so với 16,2%). Nhìn chung, tỷ lệ lao động nữ mắc bệnh nghề nghiệp ở mức phải điều trị tương đối cao (12,4%) và cao hơn lao động nam (8,7%). Về các chỉ số nhân trắc, nhân lực nữ nước ta thường thấp bé, nhẹ cân và có tình trạng sức khỏe ở mức trung bình kém. Vẫn còn một bộ phận nhân lực nữ đang phải thực hiện các công việc nặng nhọc hơn so với sức khỏe của mình.


Về trí lực của nguồn nhân lực nữ: Theo kết quả điều tra biến động dân số kế hoạch hóa gia đình thời điểm 01-4-2012, trình độ học vấn nói chung của nước ta như sau: tỷ lệ biết chữ chung cả nước là 94,7%. Trong nhóm tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ thì phụ nữ vẫn thấp hơn nam giới (92,9% đối với nhóm nữ, 96,6% với nhóm nam). Càng ở cấp học cao thì tỷ lệ nhân lực đạt được càng thấp và đặc biệt đối với nhóm nhân lực nữ. Đây là một thách thức không nhỏ trong bối cảnh nước ta tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa.


Về trình độ chuyên môn kỹ thuật:


Cũng theo số liệu thống kê năm 2012, có tới 84,6% nhân lực nữ từ 15 tuổi trở lên không có trình độ chuyên môn kỹ thuật; số nhân lực nữ đã qua đào tạo rất khiêm tốn với 1/10 tổng số nhân lực toàn quốc. Đây là một vấn đề xã hội rất đáng được quan tâm và cần có chiến lược để cải thiện. Sự bất bình đẳng giới không chỉ phổ biến trong phân công lao động gia đình, trong chăm sóc sức khỏe, trong giáo dục và ngay cả trong tham gia thị trường lao động tạo thu nhập. Sự thiếu hụt về kỹ năng, trình độ chuyên môn kỹ thuật là một vấn đề bất cập hiện nay.


Sự mất cân đối lớn về trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nữ còn được thể hiện ở chỗ lao động nữ chưa qua đào tạo, không có chuyên môn - kỹ thuật tập trung nhiều ở khu vực kinh tế phi chính thức (chiếm tới 72,7%). Thực trạng nguồn nhân lực nữ hạn chế về trình độ chuyên môn kỹ thuật là một trong những thách thức đối với thực hiện chính sách bình đẳng giới trong lao động việc làm và tạo thu nhập cũng như đối với quá trình cạnh tranh việc làm trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay khi thị trường lao động đòi hỏi ngày càng cao trình độ chuyên môn và tính chuyên nghiệp.


Trình độ ngoại ngữ và tin học: Theo kết quả điều tra của Học viện Phụ nữ Việt Nam, trong tổng số nguồn nhân lực nữ được khảo sát thì tỷ lệ nữ biết ngoại ngữ chiếm 32,7%, nhưng trong số đó có tới 1/3 là biết tiếng Anh. Tuy nhiên, một thực tế là có khoảng cách rất xa từ mức độ biết ngoại ngữ và kỹ năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ vào công việc (dao động từ 1,2% đến 3,1%). Số liệu của đề tài cũng cho thấy, chỉ có 33,1% đáp ứng được yêu cầu về tin học văn phòng và 15,7% là có khả năng đáp ứng tin học chuyên ngành.


Về khả năng sáng tạo, thích ứng, linh hoạt với công việc: Theo số liệu của Học viện Phụ nữ Việt Nam, lao động nữ được đánh giá cao về ý thức, trách nhiệm, thực hiện kỷ luật lao động nghề nghiệp (điểm trung bình 3,25 điểm/5 điểm) với khá nhiều đặc điểm tâm lý tích cực nổi bật: Có trách nhiệm với công việc (điểm trung bình = 3,40); sẵn sàng hỗ trợ người khác (điểm trung bình = 3,37); làm việc theo đúng kế hoạch và tích cực trong công việc (điểm trung bình 3,33); có ý thức kỷ luật (điểm trung bình 3,31); siêng năng cần cù trong công việc (điểm trung bình = 3,33); có ý thức học hỏi nâng cao trình độ văn hóa, kỹ năng nghề nghiệp (điểm trung bình = 3,29), vượt khó (điểm trung bình = 3,24); có chí tiến thủ (điểm trung bình = 3,06). Trong bối cảnh hiện nay vẫn còn không ít cơ sở đào tạo nghề chỉ chú trọng đến dạy nghề mà thiếu quan tâm đến bồi dưỡng ý thức, trách nhiệm, thực hiện kỷ luật lao động cho người lao động trong khi đây là yếu tố quan trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đây chính là lợi thế cạnh tranh của lao động nữ trong quá trình hội nhập và tham gia thị trường quốc tế.


Các giải pháp phát triển nguồn nhân lực nữ


Để đạt được chỉ tiêu phát triển nguồn nhân lực nữ toàn diện, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì Đảng, Nhà nước và các bên liên quan cần tạo điều kiện, cơ hội để nguồn nhân lực nữ tiếp cận thuận lợi với các dịch vụ về giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc y tế, tham gia các hoạt động tinh thần phong phú, lành mạnh. Mục tiêu cơ bản của phát triển nguồn nhân lực nữ là hướng đến sự gia tăng giá trị về thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp, đời sống văn hóa tinh thần của giới nữ trong độ tuổi lao động, đáp ứng nhu cầu lao động ngày càng cao trong xã hội. Phát triển nguồn nhân lực nữ là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng, nâng cao hiệu quả sử dụng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.


Để phát triển nguồn nhân lực nữ đáp ứng được yêu cầu thị trường ngày càng khắt khe, trong thời gian tới các cấp hoạch định và thực thi chính sách phát triển nguồn nhân lực cần chú trọng một số giải pháp sau:


Thứ nhất, phát triển thể chất, nâng cao thể lực cho nguồn nhân lực nữ thông qua các chính sách nâng cao chất lượng dân số nhằm tạo nguồn nhân lực nữ đáp ứng được yêu cầu công việc trong bối cảnh đổi mới hiện nay. Quan tâm đến các chính sách chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ về y tế, bảo hiểm y tế cho nguồn nhân lực nữ nói chung và đặc biệt đối với nguồn nhân lực nữ ở khu vực nông thôn, miền núi và đối với nhóm phụ nữ nghèo trong độ tuổi lao động. Chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và sức khỏe trẻ vị thành niên. Công tác chăm sóc sức khỏe ở các lứa tuổi cho phụ nữ cần được đưa thành một trong các nội dung hoạt động của y tế cơ sở. Tăng cường tuyên truyền chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ nông dân, có các biện pháp hỗ trợ phụ nữ nghèo trong tiếp cận các dịch vụ y tế. Tập trung cho công tác tuyên truyền chăm sóc sức khỏe sinh sản cho đối tượng nữ thanh thiếu niên và bình đẳng giới trong chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình, giảm tỷ lệ nạo hút thai, tăng tỷ lệ nam giới sử dụng các biện pháp kế hoạch hóa gia đình.


Thứ hai, tập trung nâng cao trí lực cho nhân lực nữ. Việc tăng chỉ báo học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật cho nguồn nhân lực nữ cần thực hiện bằng nhiều biện pháp tổng hợp như thông qua hệ thống phát triển giáo dục từ phổ thông đến giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề, giáo dục đại học và sau đại học. Tăng cường giáo dục hướng nghiệp nhằm định hướng nghề nghiệp cho học sinh ngay từ khi còn trên ghế nhà trường trung học phổ thông. Khuyến khích học sinh nữ tham gia đào tạo các ngành kỹ thuật, công nghệ, khoa học kỹ thuật có thu nhập cao. Rút ngắn khoảng cách giới trong chia tách nghề nghiệp và thu nhập. Tăng cường các chính sách và chương trình thu hút, hỗ trợ phụ nữ tham gia đào tạo nghề cũng như nghiên cứu và đưa ra các sáng kiến, chương trình dạy nghề cho lao động nữ ở khu vực nông thôn. Đa dạng hóa hình thức giáo dục để tạo cơ hội và điều kiện cho nhân lực nữ được tiếp cận thuận lợi không ngừng nâng cao trí lực của mình, tạo giá trị và cơ hội học tập suốt đời.


Thứ ba, thông qua chính sách thu hút nhân tài từ nguồn nhân lực nữ có chất lượng cao. Tăng cường thu hút nhân tài thông qua việc bố trí và sử dụng nguồn nhân lực nữ. Tạo điều kiện để quy hoạch, đào tạo và bổ nhiệm nhân lực nữ vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Bên cạnh đó cần quan tâm đến chế độ đãi ngộ, đồng thời phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng để có môi trường làm việc hiện đại, bảo đảm các điều kiện đặc thù đối với phụ nữ. Phải đặt việc tạo nguồn cán bộ nữ và trọng dụng nhân tài nữ trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực; có tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể, phù hợp với từng vùng, từng đối tượng, ngành, nghề. Công tác quy hoạch, sử dụng cán bộ nữ phải được tiến hành thường xuyên và được sự quan tâm một cách đầy đủ của các cấp, ngành; không vì đáp ứng yêu cầu về cơ cấu tham gia của cán bộ nữ mà xem nhẹ việc phát hiện chuẩn bị nguồn cán bộ nữ. Đây cũng là một trong những điểm nhấn quan trọng trong điều kiện mô hình phân công lao động theo giới.


Thứ tư, tăng cường lồng ghép giới để giải quyết các vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ một cách toàn diện. Xóa bỏ những rào cản và các định kiến xã hội từ các cơ quan, tổ chức và cộng đồng trong việc tạo cơ hội, điều kiện nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, học vấn và việc làm.


Thứ năm, xây dựng cơ chế hoạch định và thực thi các chính sách, tạo lập được môi trường thực sự bình đẳng cho sự tham gia và thụ hưởng của phụ nữ đối với các thành quả trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Các chính sách phải đóng vai trò xác lập một môi trường, thể chế để tạo ra quyền hạn và cơ hội bình đẳng cho phụ nữ và nam giới, do vậy phải tính đến đầy đủ về nhu cầu, vai trò và trách nhiệm khác nhau của nam giới và phụ nữ.


Thứ sáu, đẩy mạnh công tác thông tin, giáo dục, truyền thông, vận động các nhóm phụ nữ phát huy các phẩm chất truyền thống tốt đẹp. Bên cạnh đó cần coi trọng, những giá trị như học vấn, sự tinh thông, tinh xảo trong lao động ngành nghề, sự thanh tao, lịch lãm trong ứng xử, giao tiếp. Tăng cường tuyên truyền, động viên khuyến khích sự nỗ lực vươn lên của nhân lực nữ. Đồng thời, chính bản thân phụ nữ phải khắc phục và vượt qua tâm lý mặc cảm tự ti, an phận thủ thường - rào cản quan trọng trong bước tiến về chuyên môn nghề nghiệp, thăng tiến chính trị cũng như trong nâng cao vốn xã hội của phụ nữ./.

Nguyễn Thị Phương ThủyVăn phòng Chủ tịch nước

Video