Thứ Hai, 23/9/2019
Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU: Nâng tầm hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam
3/7/2019 18:15' Gửi bài này In bài này
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chứng kiến Lễ ký Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA). Ảnh: TTXVN

Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 5-11-2016, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII "Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” xác định kim chỉ nam cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc”. Chủ trương đó đã giúp nước ta tự tin bước vào giai đoạn mới của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giai đoạn chủ động xây dựng các quy tắc mới trong thương mại quốc tế thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Kết quả đầu tiên của tiến trình thực hiện các chủ trương mới của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế chính là Hiệp định Đối tác chiến lược toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) được Quốc hội Việt Nam chính thức thông qua và có hiệu lực từ tháng 1-2019. Mới đây, có thêm một thông tin tích cực về việc thực hiện các chủ trương của Nghị quyết số 06-NQ/TW, đó là việc ký kết Hiệp định Thương mại tự do (FTA) Việt Nam - EU (EVFTA) ngày 30-6-2019.

Như vậy, sau Hiệp định CPTPP, việc Việt Nam tham gia ký kết Hiệp định EVFTA góp phần thiết lập quan hệ đối tác bình đẳng, trên cơ sở đôi bên cùng có lợi với một số nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Điều đặc biệt là Việt Nam là nước thứ hai trong ASEAN và là nước đang phát triển đầu tiên trong khu vực ký kết FTA với EU. Đây là kết quả của chặng đường dài, thể hiện các bước tiến lớn để đưa nước ta từ một nước đi sau, lần đầu tiên vươn lên thuộc nhóm nước đi đầu trong khu vực trong tiến trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Khi nhắc đến một FTA, chúng ta thường chú ý đến các cơ hội gia tăng thương mại. EVFTA là một hiệp định dự kiến có nhiều đóng góp tích cực cho tăng trưởng xuất khẩu cũng như quá trình đa dạng hóa thị trường và mặt hàng xuất khẩu cho Việt Nam. Với EVFTA, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, 85,6% số mặt hàng, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU sẽ được hưởng thuế 0%. Sau 7 năm, 99,2% số mặt hàng sẽ được hưởng thuế 0%, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU (các mặt hàng còn lại theo hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%).

Tuy nhiên, với những FTA thế hệ mới, phạm vi không chỉ dừng ở các cam kết mở cửa thị trường hàng hóa. EVFTA điều chỉnh rất nhiều vấn đề khác, như mở cửa thị trường dịch vụ, đầu tư và mua sắm của các cơ quan chính phủ; thương mại điện tử; quyền sở hữu trí tuệ; doanh nghiệp nhà nước và phát triển bền vững. Các quy định dựa trên những tiêu chuẩn quốc tế trong nhiều lĩnh vực về kinh doanh, thương mại, đầu tư, đấu thầu, sở hữu trí tuệ,... Đây chính là cơ sở để chúng ta tiến hành cải cách, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hiệu quả, đối đầu thành công với các thách thức trong giai đoạn nền sản xuất thế giới đang đứng trước các thay đổi như vũ bão của Cách mạng công nghiệp 4.0. Theo các tính toán của chuyên gia Việt Nam, nếu EVFTA được thực hiện ngay thì có thể sẽ góp phần làm tổng sản phẩm quốc dân (GDP) tăng thêm ở mức bình quân từ 2,18% đến 3,25% cho giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2023; 4,57% đến 5,3% cho giai đoạn từ năm 2024 đến năm 2028 và từ 7,07% đến 7,72% cho giai đoạn từ năm 2029 đến năm 2033. Song song với tăng trưởng kinh tế, EVFTA cũng giúp tăng thêm việc làm (khoảng 146.000 lao động mỗi năm). Cho đến nay, đây là những chỉ số cao nhất so với các FTA đã được nước ta ký kết và thực hiện.

Mặc dù vậy, cùng với các cơ hội đem lại thì việc thực thi EVFTA cũng đặt ra không ít thách thức, nhất là khi nền kinh tế Việt Nam có trình độ phát triển thấp nhất so với các nước trong khu vực đã ký FTA với EU.

Thứ nhất, sức ép cạnh tranh là vấn đề đầu tiên đối với nền kinh tế và các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, cạnh tranh luôn có tính hai mặt. Cạnh tranh, một mặt, sẽ rất tiêu cực đối với các doanh nghiệp yếu kém, nhất là các doanh nghiệp vẫn dựa vào sự bao cấp của Nhà nước, các doanh nghiệp có công nghệ sản xuất và kinh doanh lạc hậu; mặt khác, mang lại động lực cho các doanh nghiệp liên tục đổi mới và sáng tạo, đồng thời tạo ra thêm nhiều sự lựa chọn cho người tiêu dùng. Quan trọng hơn cả, chúng ta cần nhìn nhận đây là con đường mà sớm hay muộn cũng phải đi qua để đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, các cam kết nhiều lĩnh vực mới trong EVFTA cũng đặt ra yêu cầu điều chỉnh, sửa đổi các quy định pháp luật. Trong thời gian qua, Quốc hội đã chủ động đưa ra lộ trình sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng, như Bộ luật Lao động, Luật Sở hữu trí tuệ... Đây là các bước đi chủ động để chuẩn bị cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có việc thực hiện EVFTA.

Thứ ba, EU là một trong những thị trường có đòi hỏi cao nhất trên thế giới. Việc bước qua được các rào cản thuế quan không có nghĩa là hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam sẽ được thị trường EU chấp nhận. EU có nhiều quy định không chỉ liên quan đến tiêu chuẩn sản phẩm mà cả đối với quy trình sản xuất ra sản phẩm đó (ví dụ không được dùng hải sản được đánh bắt bất hợp pháp hay không được dùng gỗ khai thác từ rừng tự nhiên mà chưa được phép). Hay các đòi hỏi về lao động, môi trường của EU cũng thuộc hàng cao nhất thế giới. Chính vì vậy, doanh nghiệp cũng như các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam phải không ngừng vươn lên thì mới có thể vượt qua được các thách thức, khai thác được các cơ hội do EVFTA đem lại./.

Trần Tuấn AnhỦy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương

Video