Thứ Tư, 26/6/2019
Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển cân bằng và bền vững cho Việt Nam
20/5/2019 15:54' Gửi bài này In bài này
Cần đẩy nhanh tốc độ cải cách doanh nghiệp nhà nước và tăng cường cơ chế thị trường để tạo điều kiện phát triển khu vực tư nhân - Nguồn: tuyengiao.vn

Tổng quan về năng lực cạnh tranh quốc gia

Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” (NLCT) được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, cả trong cộng đồng các nhà hoạch định chính sách và trong giới nghiên cứu. Những tranh luận về khái niệm NLCT xoay quanh các quan điểm về thị phần, chi phí, hiệu quả thương mại, năng suất, mức sống hay tiếp cận từ năng lực của doanh nghiệp, môi trường kinh doanh,...

Vào những năm 80 của thế kỷ XX, khái niệm NLCT - lần đầu tiên được thảo luận sôi nổi - gắn với chi phí lao động thấp và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp dành thị phần trên thị trường toàn cầu, để cạnh tranh với đối thủ nước ngoài. Ở đây, NLCT là một trò chơi bằng không (zero-sum game), ở đó một nước chỉ có thể cải thiện NLCT ở mức chi phí của nước khác. Krugman (năm 1986) khi nghiên cứu về chính sách thương mại và công nghiệp chiến lược trong những năm 80 của thế kỷ XX chỉ ra rằng, các nước có thể tăng phúc lợi nhờ đạt vị thế thị trường dẫn đầu trong các ngành (ví dụ ngành có lợi thế nhờ quy mô) thông qua sử dụng hỗ trợ có mục tiêu của chính phủ. Quan điểm gắn NLCT với thị phần trên thị trường toàn cầu chủ yếu dựa vào khái niệm NLCT ngành.

Theo đó, quốc gia có NLCT là quốc gia có vị thế thị trường mạnh trong các ngành chiến lược, được đo lường bởi xuất khẩu hoặc giá trị gia tăng trên một đồng vốn trong ngành chế tạo hoặc hàm lượng công nghệ. Quan điểm này ảnh hưởng tới hành động chính sách của các nước, chẳng hạn như Trung Quốc đã nỗ lực dành thị phần trong sản phẩm sử dụng năng lượng mặt trời và viễn thông với hỗ trợ mạnh mẽ từ chính phủ. Thị phần lớn thực sự là một dấu hiệu thể hiện lợi thế của một địa phương, một quốc gia, nhưng có thể chỉ đạt được nhờ trợ cấp có mục tiêu. Tuy nhiên, thị phần lớn trong một ngành nào đó không phải là một mục tiêu cuối cùng của chính sách kinh tế cũng không phải là nguồn gốc của hiệu quả kinh tế nói chung.

Một quan điểm khác về NLCT tập trung vào những đo lường liên quan tới chi phí. Quan điểm này cũng được giải thích theo nhiều cách khác nhau. Có quan điểm cho rằng, chi phí lao động thấp (chi phí trong một giờ, cho một người lao động) được xem là có NLCT vì nhờ có chi phí lao động thấp nên thất nghiệp thấp, xuất khẩu cao và thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài (FDI) hơn.

Một số nghiên cứu lại xem xét về mối quan hệ giữa chi phí lao động và sản lượng. Ví dụ như, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sử dụng chi phí lao động để đánh giá xem cán cân thanh toán của một quốc gia có bền vững hay không.

Tuy vậy, giải thích về NLCT trên cơ sở chi phí thấp, ví dụ như mức lương thấp, là không phù hợp nếu mục tiêu chính sách là sự thịnh vượng. Những giải thích này chỉ phù hợp với thị trường cụ thể, nhưng không phải là nguồn gốc cốt lõi về NLCT để tăng hiệu quả kinh tế. Ví dụ như, sự đa dạng về xuất khẩu của một nước do tiền lương thấp và đồng nội tệ yếu (trong khi quốc gia này nhập khẩu các hàng hóa tinh vi, phức tạp mà các doanh nghiệp trong nước không thể sản xuất và cạnh tranh được), có thể làm cho thương mại cân bằng hay thặng dư, nhưng làm giảm mức sống của quốc gia đó. Năng lực cạnh tranh không chỉ có nghĩa là tạo công ăn việc làm, mà quan trọng hơn là loại hình công việc tạo ra.

Khắc phục những hạn chế của cách hiểu trên, Porter (năm 1990) nhìn nhận NLCT là những yếu tố tạo ra của cải và tăng hiệu quả kinh tế. Theo Porter, mục tiêu chính của một quốc gia là tạo ra một mức sống cao và ngày càng tăng lên cho người dân. Khả năng thực hiện điều này phụ thuộc vào năng suất mà qua đó, lao động và vốn của một nước được sử dụng. Với cách tiếp cận này, NLCT theo quan điểm của Porter có quan hệ mật thiết với năng suất (productivity), trong đó năng suất được đo bằng giá trị gia tăng do một đơn vị lao động (hay một đơn vị vốn) tạo ra trong một đơn vị thời gian.

Như vậy, NLCT là một tập hợp các nhân tố quyết định năng suất của một quốc gia, trên cơ sở tiến bộ về năng suất, sẽ xác lập mức độ thịnh vượng mà một nền kinh tế có thể đạt được. Năng suất phụ thuộc vào giá trị của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra, cũng như hiệu quả của quá trình sản xuất. Do đó, NLCT cao được phản ánh qua mức năng suất cao. Hay nói cách khác, năng suất là động lực cốt lõi dẫn dắt sự thịnh vượng bền vững.

Ngoài những thảo luận xoay quanh ba quan điểm thị phần, chi phí và năng suất, các nỗ lực nghiên cứu về NLCT còn đưa ra nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh và cấp độ (quốc gia, ngành và doanh nghiệp)...

Năng lực cạnh tranh của Việt Nam vẫn còn hạn chế

Theo Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2017 - 2018 công bố tháng 7-2017 của Diễn đàn Kinh tế thế giới, vị thế NLCT của Việt Nam năm 2017 có sự cải thiện đáng kể so với năm 2016, tăng 5 bậc (từ vị trí 60/138 lên vị trí 55/137). Thứ hạng và điểm số của Việt Nam liên tục được cải thiện từ năm 2012 đến năm 2015, dù đến năm 2016 bị giảm 4 bậc, nhưng đến năm 2017 tăng trở lại và đạt thứ hạng tốt nhất từ trước đến nay. Từ năm 2015, Việt Nam được xếp vào nhóm nước chuyển đổi từ giai đoạn 1 (phát triển dựa vào các nhân tố sản xuất) sang giai đoạn 2 (phát triển dựa vào các nhân tố hiệu quả)(1) do tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người của Việt Nam đạt trên 2.000 USD(2), trong khi năm 2014 thuộc nhóm nước giai đoạn 1(3).

Trong khu vực Đông Nam Á, năng lực cạnh tranh của Việt Nam vượt Phi-líp-pin để đứng thứ 5, đứng sau 4 quốc gia là Xin-ga-po (thứ 3), Ma-lai-xi-a (thứ 23), Thái Lan (thứ 32), In-đô-nê-xi-a (thứ 36), và thuộc nửa trên của Bảng xếp hạng. So với năm 2016, Xin-ga-po tụt 1 bậc, xuống thứ 3; Ma-lai-xi-a tăng 2 bậc lên vị trí 23 (thấp hơn vị trí năm 2015, thứ 18); Thái Lan tăng 2 bậc lên 32; và In-đô-nê-xi-a giống Việt Nam, có sự cải thiện vị trí xếp hạng rõ rệt khi tăng 5 bậc lên hạng 36.

Mặc dù thứ hạng NLCT của Việt Nam có sự cải thiện nhiều, nhưng khoảng cách trên hầu hết các trụ cột (chỉ số) của Việt Nam so với các quốc gia này còn khá xa. Xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 2017 cũng cho thấy, Việt Nam có sự cải thiện về thứ hạng ở 6/12 chỉ số, 3 chỉ số giữ nguyên vị trí và 3 chỉ số giảm bậc. Đối với các chỉ số có sự cải thiện về thứ hạng, chỉ số “Mức độ sẵn sàng về công nghệ” có mức tăng hạng lớn nhất (13 bậc); tiếp đến là chỉ số “Sự phát triển của thị trường tài chính” (tăng 7 bậc); “Hiệu quả của thị trường lao động” (tăng 6 bậc); “Đổi mới sáng tạo” tăng 2 bậc; “Thể chế và Quy mô thị trường” cùng tăng 1 bậc. Đáng lưu ý, thể chế tuy tăng bậc nhưng điểm số lại giảm, nguyên nhân là do điểm số của các quốc gia khác có sự sụt giảm nhiều hơn so với của Việt Nam; trong khi các chỉ số “Y tế” và “Giáo dục tiểu học” tuy tăng điểm nhưng thứ bậc lại giảm, nguyên nhân có thể là do mức tăng điểm của Việt Nam nhỏ hơn so với mức tăng điểm của các quốc gia khác.

Diễn đàn Kinh tế thế giới cho điểm và xếp hạng NLCT của một quốc gia dựa trên 12 trụ cột, phân thành 3 nhóm yếu tố. Việt Nam mới chuyển sang giai đoạn chuyển đổi được vài năm (từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2) nên “Nhóm các yêu cầu cơ bản” vẫn đóng vai trò quan trọng (quyết định 58,9% điểm số), tiếp đến là “Nhóm hiệu quả” (35,8%) và “Nhóm đổi mới và các nhân tố về sự tinh vi” (5,3%). Năm 2017, điểm số của “Nhóm các chỉ số nâng cao hiệu quả” tiếp tục tăng (từ 4,1 lên 4,24), nhờ vậy xếp hạng của nhóm này tăng 3 bậc so với năm 2016; trong khi, điểm số “Nhóm đổi mới giảm từ 3,5 xuống 3,49 nhưng thứ hạng nhóm này không thay đổi, Nhóm các yêu cầu cơ bản dù có sự cải thiện về điểm số, nhưng vẫn bị giảm hai bậc, vì thế xếp hạng chung tăng 5 bậc. So với các nước trong khu vực ASEAN, Việt Nam đã vươn lên đứng thứ 5, trên Phi-líp-pin (56), Cam-pu-chia (94) và Lào (98).

Đứng trước yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2018 đã chỉnh sửa các so sánh cạnh tranh khi chỉ tập trung vào các chỉ tiêu liên quan đến cạnh tranh trong khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong khi đó năm vừa qua, tuy chỉ số cạnh tranh của Việt Nam tăng thêm 0,1 điểm, nhưng do các nước khác cũng tiến bộ nhanh, nên Việt Nam bị tụt ba hàng (từ 74 xuống 77/137 nước). Tuy nhiên, do sự thay đổi này dẫn đến việc so sánh với các năm trước gặp khó khăn, do vậy nghiên cứu này chỉ sử dụng số liệu của Báo cáo công bố năm 2017.

Như vậy, hơn ba thập niên trôi qua kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi mới và thực tế đã chứng tỏ đây là bước ngoặt trong lịch sử kinh tế của đất nước. Bằng cách từ bỏ hệ thống kế hoạch hóa tập trung để chuyển sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN và chuyển dịch các yếu tố sản xuất từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, công cuộc Đổi mới đã mở ra tiềm năng kinh tế cho Việt Nam. Theo chiến lược công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu, Việt Nam đã có những bước phát triển kinh tế mạnh mẽ trong hơn 30 năm qua, giúp xóa đói, giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân.

Tuy nhiên, trong khi những thành quả của cải cách đổi mới là không thể phủ nhận, tính bền vững của KTTT vẫn đang là vấn đề cần quan tâm. Một mặt, Việt Nam đang trở thành trung tâm sản xuất kế tiếp ở châu Á, theo hướng dịch chuyển FDI từ Trung Quốc về phía Nam. Đặc biệt là những lợi thế từ lực lượng lao động trẻ, dồi dào với chi phí thấp; các nguồn tài nguyên tự nhiên về cảnh quan và đất đai phì nhiêu, thuận lợi cho trồng lúa, hoa quả nhiệt đới, hoa màu đem lại cho Việt Nam tiềm năng to lớn để trở thành điểm đến du lịch hàng đầu và là quốc gia sản xuất nông nghiệp trong tương lai.

Mặt khác, mô hình phát triển hiện tại của Việt Nam còn nhiều điểm chưa phù hợp để thúc đẩy đất nước tiến lên trong giai đoạn phát triển tiếp theo. Chiến lược cơ bản của công nghiệp hóa định hướng xuất khẩu cần được tăng cường nhờ tập trung vào đổi mới để nâng cao năng suất vì lợi thế về chi phí lao động của Việt Nam dự kiến sẽ giảm khi dân số già hóa và tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, điều đáng lo ngại là tăng trưởng năng suất lao động ở Việt Nam đã chậm lại. Nguyên nhân là do sự tăng trưởng năng suất nông nghiệp không cao, cùng với sự kém hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước và sự thiếu đồng bộ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Thêm vào đó, những cải cách về thể chế không bắt kịp với cải cách về kinh tế. Những khoảng cách trong chất lượng thể chế, bao gồm thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ, bộ máy kém hiệu quả và tham nhũng đã cản trở việc thực hiện các chính sách nhằm giải quyết tình trạng khó khăn về kinh tế của Việt Nam.

Phân tích về khả năng cạnh tranh kinh tế giữa 10 thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cho thấy, Việt Nam chỉ thuận lợi hơn so với Cam-pu-chia, Lào và Mi-an-ma, nhưng vẫn kém hơn so với mức trung bình của khu vực về năng suất, sức cạnh tranh, các tiêu chuẩn về quy định, phát triển nguồn nhân lực và chất lượng kết cấu hạ tầng. Hơn nữa, Việt Nam đang dần mất đi khả năng cạnh tranh về chi phí và sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài trước sự cạnh tranh của các nước láng giềng ASEAN. Điều này nhấn mạnh sự cấp thiết của việc cơ cấu lại nền kinh tế theo một mô hình tăng trưởng mới.

Bên cạnh đó, sự phát triển giữa các vùng, miền không đồng đều là một thách thức quan trọng khác đối với Việt Nam. Dòng vốn FDI tập trung nhiều hơn vào các tỉnh miền Nam, giúp các tỉnh này luôn vượt lên các tỉnh miền Bắc và miền Trung về thu nhập bình quân hằng tháng của người dân, đạt nhiều tiến bộ hơn trong xóa đói, giảm nghèo và chất lượng chăm sóc sức khỏe.

Sự chênh lệch giữa các vùng, miền cũng được thể hiện qua việc so sánh Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh - hai thành phố lớn nhất của Bắc Bộ và Nam Bộ. Mặc dù cả hai đều là thành phố hàng đầu của Việt Nam, tuy nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh đã vượt trội hơn Hà Nội về các điều kiện sống và sự sôi động của kinh tế và khoảng cách về GDP bình quân đầu người giữa hai thành phố đã tăng lên đáng kể theo thời gian. Sự bất bình đẳng vùng, miền ngày càng lớn hơn có thể khiến Việt Nam trở thành một quốc gia có hai nền kinh tế, do miền Nam phát triển hơn dẫn đến miền Bắc và miền Trung đang bị bỏ lại phía sau. Điều này có thể làm cho Việt Nam có nguy cơ trở nên quá phụ thuộc vào khu vực phía Nam để phát triển, làm gia tăng bất bình đẳng và giảm sự gắn kết quốc gia.

Tóm lại, Việt Nam đang ở trong một gian đoạn quan trọng của tiến trình phát triển, nơi mà cải cách “Đổi mới” của nền kinh tế là chưa đủ. Thay vào đó, các nhà hoạch định chính sách cần tìm cách “hồi sinh” nền kinh tế Việt Nam thông qua một làn sóng cải cách toàn diện mới. Nhóm nghiên cứu đã chuẩn bị một lộ trình chính sách để thúc đẩy sự phát triển cân bằng và bền vững cho NLCT của Việt Nam. Các tác giả dự tính một con đường tăng trưởng năng động cho Việt Nam, theo đó tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người đạt 7%/năm, điều này đòi hỏi GDP quốc gia tăng đến 7,8%/năm, dựa trên các dự báo dân số hiện nay. Nếu mục tiêu tăng trưởng này đạt được, GDP bình quân đầu người của Việt Nam sẽ vượt qua Phi-líp-pin, bắt kịp Thái Lan và In-đô-nê-xi-a vào năm 2040(4). Hơn nữa, với mức GDP đầu người đạt 9.900 USD dự kiến đạt được vào năm 2040, GDP theo đầu người của Việt Nam sẽ gần bằng với Ma-lai-xi-a vào năm 2010.

Một số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam

Thứ nhất, cần đẩy nhanh tốc độ cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và tăng cường cơ chế thị trường để tạo điều kiện phát triển khu vực tư nhân.

Đây được coi như là một chính sách ưu tiên khẩn cấp cho Việt Nam. Đề xuất này kêu gọi Chính phủ Việt Nam thúc đẩy việc cổ phần hóa và thoái vốn tại các DNNN; hợp lý hóa và tập trung hóa hệ thống quản lý tài sản công; loại bỏ sự méo mó của thị trường do ưu ái các DNNN để tạo ra sân chơi bình đẳng và khuyến khích áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp (DN) hiện đại ở cả hai khu vực tư nhân và nhà nước trong một nền KTTT lành mạnh.

Thứ hai, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường khả năng kết nối trong nước như một phương tiện để giảm bớt sự chênh lệch giữa các vùng, miền.

Quan trọng hơn, đề xuất này thúc đẩy sự phát triển của Hà Nội, từ đó làm chất xúc tác phát triển miền Bắc hơn. Đặc biệt, Hà Nội sẽ trở thành: 1- Một trung tâm kinh doanh và tài chính, nơi tất cả các doanh nghiệp, tập đoàn đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam sẽ thành lập văn phòng đại diện để được hưởng lợi từ các hoạt động tư vấn kinh doanh và hỗ trợ dịch vụ hành chính từ các cơ quan có thẩm quyền; 2- Một cửa ngõ kết nối các tỉnh phía Bắc với nền kinh tế toàn cầu, với các cơ sở sân bay hiện đại, hệ thống giao thông đô thị loại một và liên kết kết cấu hạ tầng liền mạch với các trung tâm công nghiệp phía Bắc; 3- Một trung tâm du lịch với các dịch vụ vận chuyển và kết nối tiên tiến đến các điểm nóng du lịch khác ở miền Bắc; 4- Một thành phố sôi động với dân số trẻ sáng tạo, đổi mới, đam mê kinh doanh; 5- Một thành phố đáng sống cho người dân với các dịch vụ công hiệu quả, giá cả phải chăng với mức thu nhập cao do năng suất lao động được cải thiện.

Việc thực hiện thành công chương trình nghị sự nói trên sẽ trực tiếp cải thiện sinh kế của hơn bảy triệu người hiện đang sống tại Hà Nội. Hơn nữa, sự phát triển của Hà Nội như một trung tâm kinh doanh và tài chính sẽ khuyến khích thêm nhiều khu công nghiệp thành lập ở miền Bắc, nhằm khai thác triệt để lợi thế hậu cần và hành chính từ việc liên kết chặt chẽ với Thủ đô. Đồng thời, du lịch phía Bắc cũng sẽ được thúc đẩy nhờ kết nối quốc tế được cải thiện thông qua Hà Nội. Sự phát triển này sẽ tạo ra nhiều cơ hội kinh tế hơn cho người dân sống ở các tỉnh phía Bắc, giúp thu hẹp khoảng cách về chất lượng sống giữa miền Bắc và Nam.

Thứ ba, liên quan đến việc nuôi dưỡng các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).

Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận cam kết của Chính phủ trong việc hỗ trợ DNNVV bằng việc thông qua Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, tuy nhiên nhóm nghiên cứu vẫn cho rằng chiến lược của Việt Nam trong việc hỗ trợ DNNVV đòi hỏi một sự thay đổi lớn về việc chuyển đổi mô hình. Các can thiệp thông qua các văn bản và hình thức giảm thuế không còn là phương thức duy nhất của Chính phủ, mặc dù chúng vẫn là các công cụ chính sách quan trọng. Thay vào đó, Chính phủ nên đóng vai trò tạo thuận lợi và dựa vào các chính sách định hướng thị trường để thúc đẩy DNNVV. Trong dài hạn, các sáng kiến chính sách như vậy sẽ mang lại hiệu quả bền vững hơn các biện pháp can thiệp tài chính, nhất là khi nợ công của Việt Nam đang gia tăng. Ngoài ra, các chính sách dựa trên thị trường có vẻ hiệu quả hơn vì chúng hướng tới giúp các DNNVV phát triển nội lực của mình thay vì chỉ giảm bớt những khó khăn trước mắt.

Cụ thể, các tác giả đề xuất thành lập Sáng kiến tương lai doanh nghiệp cho Việt Nam, với trọng tâm chính là nghiên cứu dựa trên thực tế nhằm hướng dẫn việc xây dựng các kế hoạch có thể thực hiện để nâng cao hiệu quả, năng suất và tiềm năng quốc tế hóa của các DNNVV. Viện Cạnh tranh châu Á (ACI) sẽ làm việc với các đối tác Việt Nam để cùng triển khai Chỉ số giám sát hiệu quả và theo dõi năng suất tại Việt Nam. Ngoài ra, các tác giả cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng năng lực kỹ thuật số như một điều kiện cần thiết cho các DNNVV phát triển mạnh trong cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Về mặt này, Chính phủ có vai trò then chốt trong việc nâng cấp kết cấu hạ tầng viễn thông và in-tơ-nét. Hơn nữa, điều quan trọng là phải thúc đẩy một hệ sinh thái hỗ trợ, trong đó Chính phủ, các chuyên gia và các định chế tài chính cùng hợp tác để giúp các DNNVV ứng dụng các giải pháp kỹ thuật số thích hợp dựa trên nhu cầu kinh doanh. Nỗ lực của Chính phủ phải nhận được sự tham gia tích cực từ Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và các hiệp hội DN, hiệp hội ngành, nghề, những nơi có thể thông tin đến các DN thành viên các lợi ích của việc số hóa và những hậu quả có thể xảy ra nếu họ không thích ứng với thời đại kỹ thuật số.

Thứ tư, phác thảo chiến lược phát triển toàn diện lực lượng lao động Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, những kỹ năng không phù hợp và lỗi thời của người lao động do sự đột phá công nghệ là hai trong số những thách thức chính đối với lực lượng lao động trong giai đoạn phát triển tiếp theo của Việt Nam. Do đó, nhóm nghiên cứu đề xuất khởi động Sáng kiến kỹ năng tương lai như một phong trào quốc gia với các kế hoạch hành động nhằm: 1- Khuyến khích các cá nhân đưa ra các quyết định sáng suốt về giáo dục và đào tạo; 2- Kết nối giáo dục và đào tạo kỹ thuật theo nhu cầu của ngành; 3- Thúc đẩy phát triển sự nghiệp dựa trên kỹ năng; 4- Thúc đẩy văn hóa học tập trong lực lượng lao động.

Trong số các chính sách mà nhóm tác giả đề xuất để hiện thực hóa các mục tiêu của Sáng kiến kỹ năng tương lai thì Mô hình thực tập công nghiệp có mục tiêu cùng với Kế hoạch thực tập - đào tạo - tuyển dụng (Industrial Internship Model with Placed Trained Employed - IIM-PTE) là một giải pháp quan trọng. Đây là một chương trình thực tập công nghiệp với lộ trình rõ ràng để làm việc sau khi tốt nghiệp cho các sinh viên có bằng cấp nghề hoặc bằng cấp khác thấp hơn. Với sự tham gia của ba bên liên quan là chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động, IIM-PTE sẽ giúp tăng năng suất lao động thông qua đào tạo tại chỗ, tăng sự hấp dẫn của các trường dạy nghề như là một hướng khả thi để bảo đảm có được công việc tốt sau khi tốt nghiệp và góp phần giảm bớt sự thiếu hụt nghiêm trọng lao động lành nghề trong nền kinh tế Việt Nam.

Đề cập đến phát triển kỹ năng, sự xuất hiện của hệ thống dữ liệu lớn và việc phổ biến phân tích dữ liệu trong tất cả các lĩnh vực chỉ ra rằng lực lượng lao động cần được đào tạo về tư duy phản biện, kỹ năng số và phân tích dữ liệu. Hơn nữa, trình độ tiếng Anh và kỹ năng giao tiếp sẽ ngày càng trở nên quan trọng đối với người lao động Việt Nam để đạt được lợi thế cạnh tranh trong thị trường lao động của khu vực ngày càng hội nhập, cũng như tham gia nền kinh tế dịch vụ. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng nhấn mạnh sự cần thiết của Chính phủ trong việc khuyến khích sáng tạo và đặt nền móng cho một nền kinh tế tri thức có tính đổi mới. Về lâu dài, khả năng đổi mới sẽ sớm trở thành yếu tố quyết định của tăng trưởng kinh tế.

Thứ năm, nhấn mạnh tầm quan trọng của một cấu trúc kinh tế cân bằng, đa dạng hóa, nơi sản xuất và dịch vụ được phát triển song song và được hỗ trợ bởi một ngành nông nghiệp năng suất cao.

Điều này thể hiện tầm nhìn của Việt Nam để trở thành trung tâm sản xuất tiếp theo ở châu Á, một trung tâm tiềm năng cho các ngành công nghiệp dựa trên dịch vụ và là một quốc gia sản xuất nông nghiệp lớn trên thế giới. Trong nỗ lực đạt được các mục tiêu này, Chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các cản trở đối với quá trình phát triển để thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa thông qua một chính sách công nghiệp tiên phong.

Liên quan đến việc thúc đẩy tăng năng suất nông nghiệp, Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm của Ma-lai-xi-a, đặc biệt trong việc thúc đẩy lĩnh vực kinh doanh nông nghiệp cạnh tranh; phát triển quan hệ đối tác chặt chẽ giữa các cơ quan chính phủ, các DN kinh doanh nông nghiệp và các viện nghiên cứu; tích hợp các hộ sản xuất nhỏ vào chuỗi giá trị dựa trên nông nghiệp và cung cấp hiệu quả kết cấu hạ tầng, tín dụng và dịch vụ khuyến nông hiệu quả.

Việc thực hiện 5 đề xuất chính sách là một cuộc cấu trúc lại cơ bản mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Nhiệm vụ to lớn này chỉ có thể đạt được nếu Chính phủ cam kết đẩy mạnh cải cách kinh tế và quan trọng hơn là phải có những bước đi cụ thể để tăng cường năng lực thể chế, bảo đảm bộ máy nhà nước đáp ứng được những yêu cầu của cải cách. Để đạt được điều trên, cần phải xây dựng một hệ thống hành chính công hiện đại, chuyên nghiệp và minh bạch, nơi có sự đào tạo và phát triển toàn diện của các quan chức chính phủ, giám sát hiệu quả, triển khai và quảng bá dựa trên kết quả dựa theo mức độ nhân tài. Chính phủ cũng cần không ngừng cải tiến truyền thông chính trị để xây dựng mối quan hệ với nhân dân và vận động tốt sự hỗ trợ của họ cho các chính sách phát triển của Chính phủ. Mô hình Hiệp hội Nhân dân thực hiện ở Xin-ga-po là một ví dụ hữu ích trong lĩnh vực này/.

--------------------------------------------------

(1) Trọng số để xếp hạng NLCT cho các quốc gia thuộc nhóm chuyển đổi từ giai đoạn 1 sang giai đoạn 2 như sau: Các yếu tố cơ bản (58,9%), các yếu tố nâng cao hiệu quả (35,8%) và các yếu tố sáng tạo (5,3%)
(2) GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt 2.173,3 USD vào năm 2016
(3) Trọng số để xếp hạng NLCT cho các quốc gia thuộc nhóm 1: Các yếu tố cơ bản (60%), các yếu tố nâng cao hiệu quả (35%) và các yếu tố sáng tạo (5%)
(4) Giả sử các nền kinh tế này đi theo quỹ đạo tăng trưởng hiện tại của họ và tốc độ tăng trưởng trong tương lai của họ có thể được dự đoán bởi trung bình cộng của ba năm

Vũ Tiến Lộc(*), Tan Khee Giap(**), Lưu Nguyễn Triều Dương(***), Nguyễn Duy(****)(*) TS, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, (**) PGS, TS, (***) NCS, (****) Trường Chính sách công Lý Quang Diệu, Đại học Quốc gia Xin-ga-po

Video