Thứ Ba, 23/7/2019
Phát triển bao trùm nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay
14/2/2019 22:4' Gửi bài này In bài này
17 Mục tiêu Phát triển bền vững của thế giới cho giai đoạn 2016 - 2030 của Liên hợp quốc
Về phát triển bền vững gắn với phát triển bao trùm

Từ năm 2000, trước một thiên niên kỷ mới, Liên hợp quốc rất coi trọng phát triển bền vững. Chương trình phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc giai đoạn 2001 - 2015 gồm 8 mục tiêu: xóa cực nghèo và đói; đạt phổ cập giáo dục tiểu học; ... bảo đảm sự bền vững về môi trường và phát triển mối quan hệ đối tác toàn cầu vì phát triển. Các mục tiêu phát triển bền vững còn được mở rộng trong Chương trình nghị sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc trong giai đoạn 2016 - 2030 với 17 mục tiêu gồm 169 chỉ tiêu cụ thể; trong đó coi trọng các mục tiêu: kết thúc đói nghèo; cải thiện sức khỏe và giáo dục; bình đẳng giới; ... chống biến đổi khí hậu; thúc đẩy xã hội hòa bình và đem lại sức sống mới cho quan hệ đối tác toàn cầu để phát triển bền vững.

Từ thực tiễn thực hiện khá thành công Chương trình phát triển thiên niên kỷ giai đoạn 2001 - 2015 và đang tích cực triển khai thực hiện Chương trình phát triển bền vững giai đoạn 2016 - 2030, có thể thấy, để đạt được mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở phát triển bao trùm cần bao quát được các nội dung cơ bản sau:

Một là, phát triển bền vững về kinh tế.

Bảo đảm cơ hội được chia sẻ một cách bình đẳng và tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân thực hiện quyền sử dụng hợp pháp, hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho các hoạt động sinh kế. Mục đích là không tập trung mang lại lợi nhuận cho thiểu số, không để ai lại phía sau, mà tạo ra sự thịnh vượng chung cho tất cả mọi người dân trong một giới hạn cho phép của hệ sinh thái cũng như không xâm phạm những quyền cơ bản của con người.

Hai là, phát triển bền vững về xã hội - văn hóa - con người.

 

Bảo đảm đời sống xã hội - văn hóa của con người hài hòa giữa xã hội dân chủ với kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền; có sự bình đẳng giữa các giai tầng trong xã hội; bình đẳng giới; mức độ chênh lệch giàu nghèo không quá cao và có xu hướng gần lại; chênh lệch đời sống giữa các vùng miền không lớn. Mục đích là bảo đảm công bằng xã hội và phát triển con người theo chỉ số phát triển con người (HDI) bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức khỏe, tuổi thọ, hệ số bình đẳng thu nhập, các chỉ tiêu về giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, hưởng thụ văn hóa, nhằm phát triển bền vững đời sống xã hội của con người và tái sản sinh các thế hệ người. Đây là tiêu chí cao nhất và quán xuyến quá trình phát triển bao trùm nhằm phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường.

 

Ba là, phát triển bền vững về môi trường.

 

Bảo đảm chất lượng môi trường sống của con người thông qua sự trong sạch và bền vững về không khí, nước, đất, tài nguyên đất, không gian địa lý, cảnh quan tự nhiên. Chất lượng của các yếu tố này luôn cần được coi trọng và thường xuyên được đánh giá kiểm định theo những tiêu chuẩn quốc gia hoặc quốc tế trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa, phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới, phát triển du lịch. Bởi vì, các quá trình này, ở mức độ khác nhau, đều làm biến động môi trường, tác động tiêu cực đến điều kiện tự nhiên và môi trường sống của con người.

 

Về tình hình phát triển bao trùm nhằm phát triển bền vững ở Việt Nam trong những năm gần đây

 

Trong giai đoạn 2011 - 2020, Việt Nam đã thực hiện Chiến lược phát triển bền vững thông qua việc bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Cho đến nay, quá trình tổ chức triển khai, thực hiện Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011 - 2020, đạt được một số kết quả đáng khích lệ; từ đó thúc đẩy phát triển theo hướng bao trùm; cụ thể:

 

Về thành tựu

 

- Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 8 năm đạt gần 6,5%. Riêng trong năm 2018: tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng 7,08%; chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 11,4%; quy mô nền kinh tế đạt trên 240 tỷ USD; GDP bình quân đầu người đạt 2.587 USD (2018). Cơ cấu kinh tế có những bước biến đổi tích cực; tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu GDP ngày càng tăng; khu vực nông nghiệp trong cơ cấu GDP ngày càng giảm; an ninh lương thực được bảo đảm. Việt Nam đã duy trì được mức tăng trưởng khá cao trong thời gian dài, tăng trưởng đi đôi với thành tích ấn tượng về xóa đói giảm nghèo và góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế nhanh, bền vững gắn với phát triển bao trùm ở các lĩnh vực khác.

 

- Về xã hội: Sự nghiệp giáo dục có bước phát triển, chi ngân sách nhà nước cho giáo dục, đào tạo đạt tới 20% tổng chi ngân sách. Từ năm 2011, tất cả các tỉnh, thành phố đã đạt chuẩn giáo dục trung học cơ sở. Giải quyết việc làm đạt kết quả tích cực; thực hiện chiến lược dạy nghề gắn với tạo việc làm. Trong năm 2018, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi là 2%; trong đó, khu vực thành thị là 2,95%, khu vực nông thôn là 1,55%. Bất bình đẳng theo thước đo hệ số GINI (hệ số bất bình đẳng thu nhập) về tiêu dùng tăng, nhưng ở mức tương đối thấp trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam được đánh giá là nước hoàn thành nhiều (6/8) nhóm mục tiêu Thiên niên kỷ. Trong năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều ước tính còn 6,8%. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam trong năm 2017 là 0,694, thuộc nhóm trung bình cao trong tổng số 189 quốc gia.

 

- Về môi trường: Coi trọng hơn việc bảo vệ tài nguyên, môi trường. Bằng những chính sách hợp lý với các giải pháp cụ thể, vấn đề bảo vệ môi trường sống, chống ô nhiễm các nguồn nước, không khí đã được tất cả các địa phương, các ngành cùng tham gia. Công tác trồng rừng, bảo vệ rừng được quan tâm hơn nên tình trạng cháy và chặt phá rừng có giảm.

 

Về hạn chế

 

Trong giai đoạn 2011 - 2015, kinh tế phục hồi chậm, tăng trưởng chỉ đạt trung bình 5,82%; tức là chưa đạt mục tiêu phát triển kinh tế nhanh và thấp hơn các giai đoạn trước, chất lượng tăng trưởng thấp. Đóng góp của năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế còn hạn chế, hệ số sử dụng vốn (ICOR) cao. Năng lực cạnh tranh quốc gia chưa được cải thiện nhiều, nhất là về thể chế kinh tế, kết cấu hạ tầng và đổi mới công nghệ. Hiện nay, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm gần 14% GDP nhưng 70% dân số sống ở nông thôn. Riêng khu vực phi chính thức (những người bán hàng rong, kinh doanh nhỏ lẻ tự phát) có số lượng lao động lớn với 11 triệu việc làm trong tổng số khoảng 50 triệu lao động; và đang tập trung nhiều khó khăn, thách thức cho việc kết nối phát triển kinh tế bền vững với phát triển bao trùm không chỉ ở khu vực này. Quá trình cải thiện HDI trong ba thập kỷ qua lại diễn ra không đồng đều và đang có chiều hướng chững lại. Như vậy, phát triển bao trùm ở Việt Nam có tính không bền vững, nhất là chưa kết nối được giữa sự chia sẻ các thành tựu tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội, văn hóa và môi trường mà biểu hiện là bất bình đẳng về cơ hội tham gia, sự gia tăng chênh lệch giàu nghèo và chưa hạn chế được nhiều hiện tượng ô nhiễm môi trường.

Phương hướng thúc đẩy phát triển bao trùm nhằm phát triển bền vững trong những năm tới

Phát triển bao trùm là để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, định hướng xã hội chủ nghĩa theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Trong những năm tới, chúng ta cần phải thực hiện các phương hướng sau để tăng cường thúc đẩy phát triển bao trùm nhằm phát triển bền vững.        

 

Thứ nhất, phát triển kinh tế nhanh gắn với  phát triển bền vững.

 

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhằm đạt phát triển kinh tế nhanh nhưng không chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá. Trong đó, coi trọng bảo đảm đạt được những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế theo hướng bền vững, như: GDP bình quân đầu người, tỷ trọng giá trị gia tăng công nghiệp chế tạo và công nghiệp thông tin hiện đại, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế, tỷ trọng nông nghiệp công nghệ cao, tỷ lệ đô thị hóa, ...). Trong điều kiện hiện nay, các nước đang phát triển như Việt Nam cần đạt mức tăng trưởng GDP phải trên 5%/năm thì mới có thể xem là có biểu hiện phát triển nhanh và bền vững về kinh tế.

 

Vì thế, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, cơ bản theo hướng chuyển mạnh từ chủ yếu dựa vào xuất khẩu và vốn đầu tư sang phát triển dựa cả vào vốn đầu tư, xuất khẩu và dựa vào cả thị trường tiêu thụ trong nước trên cơ sở phát huy vai trò quyết định của nguồn lực trong nước, đồng thời thu hút, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài. Phát huy đầy đủ, đúng đắn vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước, nhất là vai trò động lực của doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI. Cần thực hiện việc quản lý tổng hợp chiến lược, quy hoạch phát triển ở quy mô toàn bộ nền kinh tế trên cơ sở kết nối kinh tế vùng, liên vùng và coi trọng phát triển mạnh kinh tế biển để bảo đảm phát triển bao trùm nhằm phát triển bền vững.

 

Thông qua đó, xác lập mô hình tăng trưởng có thể kết hợp hiệu quả phát triển theo chiều rộng với chiều sâu, coi trọng phát triển theo chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh trên cơ sở nâng cao năng suất lao động, tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ tiến bộ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát huy lợi thế so sánh và chủ động hội nhập quốc tế. Mục tiêu là  giải quyết hài hòa giữa mục tiêu trước mắt và lâu dài; giữa phát triển kinh tế nhanh và phát triển bao trumg về xã hội - văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, thân thiện với môi trường, nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

 

Thể chế kinh tế - xã hội để phát triển bao trùm nhằm phát triển bền vững  là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hoàn thiện, phát triển theo hướng: tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường hiện đại, văn minh, ngay từ đầu và trong suốt quá trình, từng bước thực hiện việc bảo đảm lợi ích của đại đa số nhân dân; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương, tính công khai, minh bạch trong quản lý kinh tế, năng lực quản lý của Nhà nước và năng lực quản trị doanh nghiệp.

 

Thứ hai, phát triển bao trùm về xã hội nhằm phát triển bền vững.

 

Phương hướng là phát triển theo hướng tăng cường kết nối phát triển xã hội - văn hóa với phát triển con người nhằm tạo lập nền tảng xã hội bền vững, đáp ứng tốt yêu cầu gắn kết khăng khít giữa phát triển kinh tế nhanh với phát triển bao trùm. Phương hướng triển khai, thực hiện cơ bản là: Bảo đảm ổn định và bền vững về dân số (đặc biệt tỷ lệ sinh và cân bằng giới tính,...) ; nâng cao học vấn gắn với xóa mù nghề; đẩy mạnh giảm nghèo bền vững theo hướng gắn với tạo việc làm bền vững; xây dựng, phát triển nông thôn mới để giảm sức ép di dân vào đô thị; giảm thiểu tác động xấu của biến đổi khí hậu và môi trường; bảo vệ và thúc đẩy đa dạng cảnh quan và môi trường văn hóa; bảo đảm bình đẳng giới và quan hệ bình đẳng tộc người; tăng cường sự tham gia của người dân vào các quá trình ra quyết định trong mối quan hệ hài hòa giữa kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân chủ. Trong đó, coi trọng thực hiện những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về mặt xã hội (chỉ số phát triển con người, tuổi thọ bình quân, chỉ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, số bác sĩ trên 1 vạn dân, tỷ lệ lao động qua đào tạo,...) và những tiêu chí phản ánh trình độ phát triển về môi trường (tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch, độ che phủ rừng, tỷ lệ giảm mức phát thải khí nhà kính,...).

 

Cơ sở xã hội - chính trị cho phát triển bao trùm nhằm phát triển bền vững về xã hội là tiếp tục hoàn thiện mô hình nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh nhằm bảo đảm thực hiện tốt chức năng phục vụ và kiến tạo phát triển theo hướng: Nhà nước tập trung vào tạo lập kết cấu hạ tầng xã hội - văn hóa đầy đủ và thuận lợi để phục vụ nhu cầu của người dân và yêu cầu phát triển của xã hội. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống và giảm rõ rệt tệ nạn và tội phạm xã hội; hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, đặc biệt trong việc thiết lập cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực nhà nước một cách hiệu quả; không ngừng củng cố, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường sự đồng thuận xã hội trên cơ sở tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân.

 

Thứ ba, phát triển bao trùm về môi trường nhằm phát triển bền vững.

 

Để làm được điều này, trước hết chúng ta phải đạt được các chỉ tiêu cơ bản: Chỉ tiêu tổng hợp (GDP xanh, chỉ số phát triển con người, chỉ số bền vững môi trường); Chỉ tiêu về kinh tế (hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, năng suất lao động xã hội, mức giảm tiêu hao năng lượng để sản xuất ra một đơn vị GDP, chỉ số giá tiêu dùng, cán cân vãng lai...); Chỉ tiêu về xã hội (tỷ lệ nghèo, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lao động đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo, tỷ số giới tính khi sinh, hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập...); Chỉ tiêu về tài nguyên, môi trường (tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ đất được bảo vệ, diện tích đất bị thoái hoá,...). Và để đạt được các chỉ tiêu cơ bản trên, chúng ta cần tổ chức triển khai, thực hiện các bước: (1) Sử dụng có hiệu quả tài nguyên, đặc biệt tài nguyên không tái tạo gắn với bảo vệ chặt chẽ các hệ sinh thái nhạy cảm, bảo vệ đa dạng sinh học đồng thời kiểm soát và giảm thiểu phát thải khí nhà kính; (2) Phát triển kinh tế nhanh nhưng không vượt quá ngưỡng chịu tải của hệ sinh thái; (3) Giảm thiểu xả thải, khắc phục ô nhiễm (nước, khí, đất, lương thực, thực phẩm) và giải quyết rốt ráo những hệ lụy cho môi trường, đặc biệt giải quyết tốt vấn nạn rác thải ở nông thôn./.                                 
ThS. Nguyễn Thị Loan AnhĐại học Văn hóa Hà Nội

Video