Thứ Bảy, 16/12/2017
Tái cơ cấu các tổ chức tín dụng: Những vấn đề đặt ra trong giai đoạn 2016 - 2020
17/11/2017 21:4' Gửi bài này In bài này
Tái cơ cấu các tổ chức tín dụng giai đoạn 2016 - 2020 không chỉ giúp giảm đi những hạn chế, yếu kém mà phải làm sao để các tổ chức tín dụng phát triển lên tầm khu vực và quốc tế - Nguồn: enternews.vn

Hạn chế và nguyên nhân trong tái cơ cấu các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015

Quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 đã giải quyết được các vấn đề về thiếu thanh khoản hệ thống; xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém nhưng vẫn bảo đảm an toàn của hệ thống với mức tổn thất và chi phí thấp nhất cho ngân sách nhà nước; tạo nền tảng cho hệ thống ngân hàng hoạt động bình thường, xử lý tốt nợ xấu. Sau 4 năm triển khai đề án tái cơ cấu giai đoạn 2011 - 2015 chúng ta đã giảm được 17 tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thông qua mua bán và sáp nhập (M&A), rút giấy phép, giải thể; tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm 2015 chỉ còn khoảng 2,72%; mặt bằng lãi suất cho vay đã được đưa về mức 7 - 9%/năm (năm 2011 là 25 - 35%/năm); thanh khoản thông suốt, thị trường vàng được sắp xếp lại và ổn định. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì các tổ chức tín dụng Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế như:

Vấn đề tính an toàn, lành mạnh trong tài chính

Việc thành lập công ty quản lý tài sản (VAMC) để mua bán nợ xấu là một trong những giải pháp được đánh giá cao về tính hiệu quả tuy nhiên một lượng lớn nợ xấu được đưa về VAMC lại chưa bán được thành tiền để đưa vào đầu tư, kinh doanh. Ngoài ra, nguồn nhân lực và tài chính của VAMC còn hạn chế so với lượng nợ xấu đã mua cần xử lý. Tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu đa dạng, phân tán nhiều nơi, làm cho việc nắm bắt đầy đủ thực trạng các khoản nợ và thực hiện xử lý tài sản để thu hồi nợ còn kém hiệu quả. Nguồn vốn của VAMC còn thiếu linh hoạt và giới hạn, chưa có dòng tiền thật trong công tác xử lý nợ xấu, gây nhiều khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ, đặc biệt trong công tác mua bán nợ theo giá trị thị trường.

Tuy nhiên, đáng lo ngại nhất vẫn là sở hữu chéo, khi vì lợi ích, các “ông chủ” lập ra nhiều công ty tài chính, đầu tư chéo, cho vay chéo chính công ty của mình khiến nợ xấu tăng cao, gây mất an toàn cho hệ thống tổ chức tín dụng. Sở dĩ sở hữu chéo vẫn chưa được giải quyết được triệt để vì thứ nhất, giá cổ phiếu trên thị trường xuống thấp, khi thoái vốn ngân hàng sẽ phải chịu lỗ; thứ hai, vấn đề sở hữu chéo do những cổ đông tạo ra nhóm lợi ích, nên dù có luật nhưng họ vẫn chần chừ thực hiện vì đi ngược lại quyền lợi của họ; thứ ba, việc xây dựng và hoàn thiện khung khổ pháp lý đối với vấn đề này còn chậm, chưa đồng bộ.

Về nợ xấu, mặc dù các con số đều đưa ra kết quả khả quan, tuy nhiên, có nhiều ý kiến cho rằng, với tăng trưởng tín dụng cao thì tổng dư nợ, trong đó có nợ xấu cũng sẽ tăng tương ứng. Bên cạnh đó, nhiều tổ chức tín dụng, ngân hàng và người đi vay thực hiện phương thức đáo hạn, đảo nợ, xử lý, tái cơ cấu lại nợ để chuyển từ nợ quá hạn thành chưa đến hạn. Qua nhiều lần tái cơ cấu và đảo nợ như vậy, những khoản nợ thuộc nhóm nợ đủ tiêu chuẩn, nợ cần chú ý có nguy cơ trở thành nợ xấu trong giai đoạn tiếp theo.

Thiếu minh bạch thông tin

Trong tái cơ cấu các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 các ngân hàng thương mại yếu kém đã được xác định, khoanh vùng để tiến hành sát nhập, hợp nhất hoặc Ngân hàng Nhà nước mua lại với giá 0 đồng. Đây thực tế là quá trình sắp xếp, thu gọn lại hệ thống ngân hàng nhằm giảm về mặt số lượng nhưng vẫn chưa giải quyết được vấn đề về chất lượng. Theo báo cáo của Ủy ban giám sát tài chính quốc gia, vẫn còn nhiều tổ chức tín dụng được nhận định là yếu kém và tập trung nhiều nợ xấu. Không ít ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước chưa coi minh bạch thông tin và cập nhật chính xác thông tin về kết quả kinh doanh là yêu cầu tất yếu dẫn đến tình trạng giảm niềm tin, giảm sức thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước tham gia vào hoạt động kinh doanh.

Năng lực của các tổ chức tín dụng chưa đáp ứng yêu cầu thực tế đặt ra

Năm 1988, BCBS (Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng) đã giới thiệu một khung rủi ro tín dụng (Basel I) xác định các tiêu chuẩn về vốn để hạn chế rủi ro kinh doanh của các ngân hàng và tăng cường hệ thống tài chính. Để đáp ứng các yêu cầu của phát triển liên tục trong ngành ngân hàng, các quy định này đã được sửa đổi và vào tháng 6-2004, một hiệp ước về vốn mới (Basel II) được ban hành. Mục tiêu của Basel II là nâng cao chất lượng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng quốc tế; tạo lập và duy trì một sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng hoạt động trên bình diện quốc tế; đẩy mạnh việc chấp nhận các thông lệ nghiêm ngặt hơn trong lĩnh vực quản lý rủi ro. Xu thế hội nhập quốc tế đòi hỏi các ngân hàng thương mại Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu quản trị nói chung và quản trị rủi ro nói riêng theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời mở ra các cơ hội để ngành ngân hàng có thể tiếp cận nhanh và gần hơn với các chuẩn mực đó. Tuy nhiên mức độ an toàn, hiệu quả của hệ thống theo tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là theo Basel II của các tổ chức tín dụng Việt Nam chưa hoàn toàn được bảo đảm. Đa số các tổ chức tín dụng Việt Nam đều cho rằng còn nhiều khó khăn khi triển khai áp dụng Hiệp ước Basel II, trong đó có hai khó khăn chung được nhắc đến nhiều nhất chính là chi phí triển khai Hiệp ước Basel II và thiếu dữ liệu lịch sử.

Ngoài ra, mặc dù hệ số tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của hầu hết các ngân hàng Việt Nam đều đạt trên 9%, và CAR của hệ thống đạt mức 13,14% nhưng cách tính CAR hiện nay của Việt Nam chưa đạt chuẩn Basel II, đặc biệt là cách tính hệ số rủi ro theo kết quả xếp hạng tín dụng. Bên cạnh đó, nếu xét trong khu vực thì hệ số CAR, một trong những chỉ số quan trọng đánh giá năng lực tài chính của tổ chức tín dụng Việt Nam vẫn còn ở mức thấp so với hệ số CAR của Thái Lan là 17,1%, Indonexia là 21,3%, Malaysia là 16,3%.

Chỉ số ROE của các tổ chức tín dụng cũng chưa tính hết chi phí trích lập dự phòng rủi ro, do cách phân loại nợ hiện nay mặc dù đã tiệm cận dần nhưng chưa theo được đầy đủ tiêu chuẩn quốc tế. Hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam mới đang áp dụng Basel I, trong khi Basel II đã được áp dụng tại hầu hết các quốc gia trong khu vực.

Những vấn đề đặt ra trong tái cơ cấu các tổ chức tín dụng giai đoạn 2016 - 2020

Những kết quả của quá trình tái cơ cấu tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 - 2015 đã mang đến cho hệ thống ngân hàng một diện mạo mới tuy vậy, khó khăn và thách thức vẫn còn. Với lộ trình tái cơ cấu giai đoạn 2016 - 2020, nhiệm vụ đặt ra với các tổ chức tín dụng là vừa tiếp tục xử lý nợ xấu, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, quản trị ngân hàng và quyết liệt trong xử lý sở hữu chéo. Để làm được điều này cần sự phối hợp của ba bên gồm: Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng.

Đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước: Cần đặt tái cơ cấu các ngân hàng trong tổng thể tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế. Chính phủ cần chỉ đạo tháo gỡ vướng mắc, giải quyết dứt điểm nợ đọng xây dựng cơ bản, tăng vốn điều lệ các tổ chức tín dụng theo đúng lộ trình, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh 3 đột phá gồm thể chế, nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng; kiên quyết cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh thông qua cải cách thuế, hải quan, thủ tục hành chính, chỉ đạo phối hợp chính sách, nhất là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ hiệu quả hơn; tận dụng mọi nguồn lực trong đó chú trọng khuyến khích nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư nước ngoài tham gia nhiều hơn nữa vào quá trình tái cơ cấu và xử ly nợ xấu; thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định tỷ giá, lãi suất, tạo điều kiện ổn định kinh tế vĩ mô; xử lý vướng mắc trong thanh toán, áp dụng quản lý rủi ro theo chuẩn Basel II đúng lộ trình; xây dựng kế hoạch chiến lược phát triển ngành ngân hàng ngắn và dài hạn. Để làm được như vậy, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp:

Thứ nhất, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cơ chế, chính sách, luật pháp để tháo gỡ những vướng mắc dẫn đến làm chậm, hiệu quả thấp trong quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, trong đó, cần xây dựng cơ chế pháp lý cho sự can thiệp của Nhà nước trong việc xử lý dứt điểm các tổ chức tín dụng yếu kém; xây dựng khuôn khổ pháp lý thông thoáng, không vi phạm các quy định hội nhập về việc thành lập các ngân hàng mới gắn với việc phát triển bền vững hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Thứ hai, hoạt động của hệ thống ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ với tất cả các khu vực của nền kinh tế, điều này đồng nghĩa với việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng phải song hành với tái cơ cấu doanh nghiệp, tái cơ cấu đầu tư công và tái cơ cấu nền nông nghiệp Việt Nam.

Thứ ba, thực hiện điều tiết thị thường tiền tệ, chủ động kiểm soát lạm phát trên cơ sở sử dụng các công cụ tiền tệ gián tiếp, lấy lãi suất làm công cụ chủ đạo trong điều hành; thực hiện đổi mới và phát triển hệ thống quản trị ngân hàng phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực quản trị ngân hàng hiện đại, trong đó chú trọng nâng cao hiệu quả của các hệ thống quản trị rủi ro, hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ.

Thứ tư, thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển, có cơ chế, chính sách hợp lý khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn trung, dài hạn trên thị trường chứng khoán. Từng bước giảm nhanh tỷ lệ dùng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn. Giải quyết được nút thắt này mới khắc phục được rủi ro kỳ hạn và có cơ sở để các ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay.

Thứ năm, xử lý căn bản tình trạng đô la hóa vào năm 2020; hạn chế và tiến tới chấm dứt cho vay bằng ngoại tệ đến năm 2020; tự do hóa giao dịch vốn ở mức cao, tăng mức đầu tư gián tiếp đối với các nhà đầu tư nước ngoài hơn mức hiện tại; thực hiện chính sách tỷ giá linh hoạt với biên độ giao động rộng hơn.

Thứ sáu, kiên quyết xử lý sở hữu chéo trong các ngân hàng, giữa ngân hàng với doanh nghiệp. Đối với các cổ đông đang có sở hữu chéo, cần tiếp tục làm rõ nguồn lực tài chính cũng như giám sát chặt chẽ các cổ đông này trong việc mua bán chuyển nhượng cổ phiếu ngân hàng trên thị trường chứng khoán. Bổ sung các quy định về tăng cường xử lý sở hữu chéo, ngăn lạm dụng quyền quản trị, điều hành, quyền cổ đông lớn để thao túng hoạt động của tổ chức tín dụng.

Thứ bảy, điều chỉnh cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng theo hướng giảm dần số lượng, tăng quy mô về vốn tương ứng với năng lực quản trị điều hành và phạm vi hoạt động, đáp ứng đầy đủ các quy định về an toàn hoạt động do Ngân hàng Nhà nước quy định.

Thứ tám, Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng trong việc thực hiện các quy định về cấp tín dụng, an toàn hoạt động và phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro. Bên cạnh đó, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh công tác về quản lý, thanh tra, giám sát trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và doanh nghiệp nhà nước.

Đối với các tổ chức tín dụng: Để tăng hiệu quả của việc tái cơ cấu, các tổ chức tín dụng cần tiếp tục đổi mới quản trị doanh nghiệp và nâng cao nghiệp vụ kiểm soát rủi ro theo thông lệ quốc tế, đồng thời cải thiện chất lượng dịch vụ, sản phẩm và năng lực cạnh tranh... Để thực hiện thành công các mục tiêu của tái cơ cấu hệ thống ngân hàng giai đoạn 2016 - 2020, trong thời gian tới, các tổ chức tín dụng cần tập trung triển khai thực hiện một số nhiệm vụ sau:

Một là, các tổ chức tín dụng chủ động xây dựng, hoàn thiện phương án tái cơ cấu dựa trên các nội dung chính gồm: (1) đánh giá thực trạng tài chính, hoạt động quản trị điều hành, cổ đông và sở hữu vốn điều lệ của tổ chức tín dụng; (2) xác định rõ mục tiêu, định hướng cơ cấu lại và xử lý nợ xấu cụ thể theo từng năm trong thời gian từ nay đến năm 2020; (3) đề xuất các giải pháp cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu và lộ trình thực hiện quản trị điều hành, cổ đông sở hữu cổ phần, thực trạng tài chính, mạng lưới hoạt động, khả năng cạnh tranh…

Hai là, nâng cao năng lực tài chính và năng lực quản trị kinh doanh của các ngân hàng. Theo đó, cần phối hợp chặt chẽ có hiệu quả giữa các ngân hàng với VAMC và các cơ quan có liên quan để xử lý nhanh nợ xấu, tránh tình trạng nợ xấu ngày càng lớn. Tập trung xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém. Các ngân hàng thương mại bằng các biện pháp chủ động tự xử lý nợ xấu là chủ yếu; đồng thời phát huy vai trò của VAMC tham gia xử lý nợ xấu và phát triển thị trường mua bán nợ.

Ba là, thúc đẩy mạnh mẽ việc mở rộng các dịch vụ ngân hàng cho các thành phần trong nền kinh tế và mở rộng các dịch vụ ngân hàng ra ngoài khu vực truyền thống, tăng cường cạnh tranh quốc tế và mở rộng mạng lưới ra ngoài phạm vi quốc gia; xây dựng cơ chế bảo vệ người tiêu dùng trong quan hệ giữa khách hàng với ngân hàng trong khuôn khổ pháp luật trong đó cần chú trọng đầu tư cải tiến công nghệ hỗ trợ công tác quản lý và phục vụ trực tiếp có hiệu quả cho hoạt động kinh doanh. Để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của khách hàng về giao dịch nhanh, chính xác, tiết kiệm thời gian và an toàn, thì công nghệ hiện đại và thân thiện cho người sử dụng có tính quyết định.

Bốn là, các tổ chức tín dụng cần phải xem xét lại việc mở chi nhánh, phòng giao dịch, mạnh dạn đóng cửa các chi nhánh, phòng giao dịch hoạt động kém hiệu quả, hoặc mở quá nhiều chi nhánh, phòng giao dịch trên cùng địa bàn, trước hết vì lợi ích của chính ngân hàng, cũng như lợi ích của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng hiện nay.

Năm là, để nâng cao năng lực tài chính và chất lượng tín dụng các tổ chức tín dụng cần tăng vốn và cải thiện chất lượng nguồn vốn tự có để bảo đảm mức vốn điều lệ không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của pháp luật và đáp ứng đầy đủ tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo quy định của pháp luật và chuẩn mực quốc tế. Theo đó, cần chủ động xây dựng và triển khai lộ trình tăng vốn tự có của tổ chức tín dụng từ các nguồn: Phát hành cổ phiếu bổ sung, tăng vốn góp từ các cổ đông chiến lược trong và ngoài nước; Tăng vốn từ nguồn cổ tức hằng năm hoặc từ nguồn thặng dư phát hành, lợi nhuận để lại; Phát hành trái phiếu chuyển đổi, công cụ nợ dài hạn để tạo dựng nguồn vốn ổn định. Mục tiêu đến cuối năm 2020 các tổ chức tín dụng phải bảo đảm mức vốn tự có theo chuẩn mực vốn Basel II (theo phương pháp tiêu chuẩn).

Sáu là, về kiểm soát chất lượng tín dụng, giảm nợ xấu, nâng cao chất lượng tài sản, các tổ chức tín dụng chủ động triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xử lý nợ xấu như đôn đốc thu hồi nợ; bán, xử lý nợ, tài sản bảo đảm; khởi kiện khách hàng vay; sử dụng dự phòng rủi ro; có biện pháp hỗ trợ phù hợp cho khách hàng khắc phục khó khăn và phát triển sản xuất kinh doanh…

Bảy là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong các tổ chức tín dụng. Yêu cầu nguồn nhân lực không chỉ đủ về số lượng mà còn bảo đảm về chất lượng thông qua các tiêu chí về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề… Để có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu, ngoài việc tự học tập qua công việc, mỗi ngân hàng cần phải xây dựng chương trình đào tạo hợp lý theo từng cấp độ để cập nhật kiến thức mới, sản phẩm mới, công nghệ mới, kết hợp cơ chế đãi ngộ, tạo môi trường làm việc cởi mở để người lao động cống hiến, từ đó phát huy tối đa khả năng, sở trường làm việc để đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu./.

Gia Bảo

Video