Thứ Năm, 23/11/2017
Xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Hải Dương
12/10/2017 21:43' Gửi bài này In bài này
Đường giao thông nông thôn ở Hải Dương. Ảnh: haiduong.gov.vn
Quyết liệt thực hiện Chương trình đồng loạt ở tất cả các xã…

Thực hiện Quyết định số 115-QĐ-TU, ngày 15-02-2011, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương thành lập Ban chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010-2020 và Nghị quyết số 14/NQ/TU, ngày 24-9-2013, của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Khóa XV về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đến năm 2020; Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình và có những cơ chế, chính sách hỗ trợ trực tiếp cho các xã để xây dựng nông thôn mới.

Để thực hiện Chương trình giai đoạn 2016-2020, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã thành lập Ban chỉ đạo các Chương trình mục tiêu quốc gia của tỉnh giai đoạn 2016-2020; ban hành Quy định cụ thể Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016-2020 trên địa bản tỉnh; ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình giai đoạn 2016-2020 và năm 2017.

Ban chỉ đạo Chương trình được thành lập ở 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) và Văn phòng điều phối được thành lập ở cấp tỉnh, cấp huyện. Ban chỉ đạo cấp tỉnh, huyện đã tập trung chỉ đạo quyết liệt thực hiện Chương trình đồng loạt ở tất cả các xã trên địa bàn, dành nguồn kinh phí hỗ trợ các xã đăng ký hoàn thành giai đoạn I và ưu tiên các xã đăng ký hoàn thành 19 tiêu chí. Tại các xã, ban chỉ đạo, ban quản lý xây dựng nông thôn mới xã tập trung nguồn lực hỗ trợ và động viên nhân dân hăng hái tham gia xây dựng nông thôn mới.

Cả hệ thống chính trị của tỉnh đã vào cuộc quyết liệt triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới và đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tính đến ngày 31-12-2016, toàn tỉnh có 102 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 45,1% (so với toàn quốc là 26%). Xét về số tiêu chí nông thôn mới bình quân/xã, toàn tỉnh đạt 3.528 tiêu chí, bình quân đạt 15,6 tiêu chí/xã (con số của toàn quốc là 13,6). Như vậy, các chỉ số đều có sự vượt trội so với bình quân chung của cả nước. Tính đến ngày 31-8-2017, đã có thêm 13 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn lên 115/226 xã, đạt 50,8% (toàn quốc đạt 31,3%). Trong khi đó, số tiêu chí nông thôn mới bình quân/xã đã tăng lên con số 16,7, tăng 1,1 tiêu chí so với cuối năm 2016 (toàn quốc đạt bình quân 13,23 tiêu chí/xã). Đây là những con số thực sự ý nghĩa, nếu như nhìn lại khi bắt tay xây dựng nông thôn mới (năm 2011), theo kết quả điều tra, khảo sát của tỉnh, trung bình mỗi xã chỉ có 6,7 tiêu chí hoàn thiện, trong khi đó, thời gian của giai đoạn 1 còn lại rất ngắn (đến 2015), các tiêu chí chưa đạt đều là những tiêu chí “ngốn” kinh phí, như đường, trường, trạm…

Điều đáng chú ý, thị xã Chí Linh và huyện Kinh Môn đã có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Vào đầu tháng 9-2017, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương đã có báo cáo về việc thẩm tra hồ sơ và kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới cho huyện Kinh Môn và thị xã Chí Linh. Kết quả là cả 2 địa phương đều được tỉnh công nhận đủ điều kiện và đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bộ, ngành Trung ương tổ chức thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. Ngày 18-9-2017, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành Quyết định số 3725/QĐ-BNN-VPĐP về việc thành lập Tổ công tác liên ngành thẩm tra hồ sơ và khảo sát thực tế đối với huyện Kinh Môn, thị xã Chí Linh (tỉnh Hải Dương) đề nghị công nhận đạt chuẩn và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới năm 2017.

Ngoài ra, trong kế hoạch năm 2017, Hải Dương phấn đấu có thêm 30 xã đạt chuẩn nông thôn mới, nâng tổng số xã đạt chuẩn lên ít nhất 132 xã, đạt 58,4%; đến ngày 31-12-2017, bình quân các xã trong toàn tỉnh đạt 17 tiêu chí/xã.

Hạn chế, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm

Những hạn chế chủ yếu

Tuy đạt được những thành quả khá tích cực, song chương trình xây dựng nông thôn mới ở Hải Dương cũng bộc lộ một số hạn chế nhất định.

Thứ nhất, quyết tâm của ban chỉ đạo cấp xã ở một số xã chưa cao, có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nguồn lực của cấp trên. Thực tế cho thấy, bất cứ việc gì cũng cần bộ máy chính quyền cấp cơ sở có trách nhiệm, tâm huyết thì công việc mới trôi chảy, hiệu quả. Đối với những cơ sở ỷ lại, thiếu trách nhiệm kiểu “nước nổi, bèo trôi” thì ngay cả khi có vốn cũng chỉ gửi ngân hàng, chưa nói đến chuyện thiếu vốn mà huy động sức dân, vận động các nguồn lực xã hội hóa. Thực tế, nếu lãnh đạo cấp xã không tích cực vào cuộc, ngay cả khi có nguồn vốn cũng không triển khai được chương trình một cách hiệu quả…

Thứ hai, một số địa phương mới quan tâm đến xây dựng kết cấu hạ tầng, chưa thực sự quan tâm đến chỉ đạo phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân. Chính vì thế, tiêu chí về hộ nghèo không dễ để giải quyết. Cũng về tiêu chí hộ nghèo, việc đánh giá có nơi còn chưa sát đúng, vẫn để những người đã thoát nghèo trong diện nghèo, để hưởng chế độ ưu đãi của nhà nước, như khám chữa bệnh bằng bảo hiểm y tế…

Thứ ba, ở một số xã, công tác vận động tuyên truyền chưa tốt, nên vẫn còn có người dân chưa đồng thuận cao trong việc tham gia, đóng góp xây dựng nông thôn mới và thực hiện dồn điền đổi thửa. Thực tế, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức tuyên truyền mà không sâu sát, kịp thời, thấu đáo, dễ hiểu, dân chủ thì người dân không dễ tiếp thu. Mặt khác, cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới phải tâm huyết, có trách nhiệm thì mới vào cuộc quyết liệt, tạo sự bứt phá, hiệu quả…

Thứ tư, nguồn thu ngân sách các xã chủ yếu từ nguồn đấu giá quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đấu giá đất ở nhiều nơi gặp khó khăn, nên nguồn thu này chưa đáp ứng được. Trong khi đó, một số xã chưa chủ động, thiếu quyết tâm, sáng tạo trong việc xây dựng những dự án hiệu quả cho việc đấu giá quyền sử dụng đất, nên sức hút đối với các nhà đầu tư (tư nhân và doanh nghiệp) chưa đủ lớn…

Thứ năm, các doanh nghiệp và các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn còn ít. Đây cũng là khó khăn chung của cả nước, bởi lẽ đầu tư vào nông nghiệp đòi hỏi nguồn vốn lớn, trong khi hiệu quả lại không chắc chắn, nếu thiếu những chính sách ưu đãi đủ mạnh. Mặt khác, đầu tư vào nông nghiệp chưa được quan tâm, tạo điều kiện đồng bộ về hạ tầng, chính sách… nên còn khá manh mún, thiếu hiệu quả.

Thứ sáu, tình hình nợ xây dựng cơ bản ở một số xã còn lớn, khả năng huy động nguồn trả nợ gặp nhiều khó khăn.

Nguyên nhân của hạn chế

Nguyên nhân khách quan

- Những năm vừa qua, kinh tế trong nước, trong tỉnh gặp khó khăn đã ảnh hưởng đến việc huy động và bố trí nguồn lực thực hiện Chương trình.

- Khối lượng công việc trong xây dựng nông thôn mới rất lớn; trong quá trình thực hiện, các cấp, các ngành vừa làm, vừa rút kinh nghiệm; thời gian để thực hiện Chương trình còn ngắn; một số chính sách mới được triển khai, nên chưa phát huy tác dụng, chưa đem lại kết quả thực tế.

- Một số cơ chế, chính sách và văn bản hướng dẫn của Trung ương còn chậm ban hành, hoặc sửa đổi bổ sung chưa kịp thời.

Nguyên nhân chủ quan

- Một số cấp ủy, chính quyền cơ sở chưa quyết liệt trong chỉ đạo thực hiện Chương trình. Có nơi còn chưa tạo được sự gắn bó, đồng lòng giữa cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể...

- Nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho Chương trình có hạn, trong khi khả năng đóng góp của nhân dân gặp khó khăn, nhất là ở các xã có điểm xuất phát về phát triển kinh tế - xã hội thấp.

- Khi lập kế hoạch triển khai xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, các địa phương xây dựng phương án nguồn vốn có tính khả thi không cao, dẫn đến nợ xây dựng cơ bản.

Bài học kinh nghiệm


- Xây dựng nông thôn mới là Chương trình hợp lòng dân, được nhân dân đồng tình hưởng ứng là nhân tố quyết định đến sự thành công của Chương trình. Quan trọng hơn, nhân dân được tham gia, giám sát, thi công các công trình cụ thể và là đối tượng chính được thụ hưởng các thành quả sau này.

- Ở địa phương cơ sở nào, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền thực sự quyết tâm cao thì ở đó có tiến độ xây dựng nông thôn mới nhanh. Những xã sớm về đích, lãnh đạo đều rất tâm huyết, sâu sát, trách nhiệm. Điển hình như ở huyện Kinh Môn và thị xã Chí Linh, có thể nói rằng, lãnh đạo các cấp thực sự tâm huyết, “xắn tay vào cuộc” một cách quyết liệt,…

- Những xã làm tốt công tác quy hoạch đất phục vụ đấu giá quyền sử dụng đất, xử lý tốt đất dôi dư, xen kẹp trong khu dân cư và các khoản thu khác,… đã chủ động được nguồn vốn để xây dựng các công trình nông thôn mới từ ngân sách địa phương, giảm thiểu tối đa nợ đọng xây dựng cơ bản.

- Chính sách hỗ trợ Chương trình của tỉnh Hải Dương là rất quan trọng và cần thiết, điển hình là cơ chế hỗ trợ đặc thù cho các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới hằng năm.

Một số giải pháp cơ bản trước mắt và lâu dài

Hải Dương đặt mục tiêu đến năm 2020, toàn tỉnh có 203 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 89,8%; số tiêu chí bình quân/xã đạt 18,2 tiêu chí/xã; đến năm 2018, huyện Cẩm Giàng đạt chuẩn nông thôn mới, thành phố Hải Dương hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; năm 2020, các huyện Nam Sách, Bình Giang, Thanh Miện, Thanh Hà đạt chuẩn nông thôn mới.

Để đạt được mục tiêu nói trên, Hải Dương cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao năng lực Ban chỉ đạo và bộ máy giúp việc các cấp

Các thành viên Ban chỉ đạo các cấp tăng cường chỉ đạo, đôn đốc thực hiện các tiêu chí nông thôn mới thuộc lĩnh vực, địa phương được phân công, thường xuyên kiểm tra tiến độ xây dựng nông thôn mới ở cơ sở.

Nâng cao vai trò, trách nhiệm cấp ủy, chính quyền các cấp, nhất là vai trò người đứng đầu trong xây dựng nông thôn mới. Các sở, ngành đưa vào chương trình công tác năm các nhiệm vụ về xây dựng nông thôn mới. Xác định nội dung xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chính trị của các địa phương, các ngành, cơ quan các cấp liên quan trong tỉnh.

Hai là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước, quy định của tỉnh về thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trong các tầng lớp nhân dân để phát huy cao sự tham gia tích cực, chủ động của nhân dân và sự quan tâm của toàn xã hội thi đua xây dựng nông thôn mới.

Ba là, tăng cường huy động các nguồn lực xây dựng nông thôn mới

Hằng năm, các địa phương trong tỉnh cân đối, bố trí tỷ lệ ngân sách phù hợp cho xây dựng nông thôn mới và tăng cường huy động, lồng ghép các nguồn lực phục vụ xây dựng nông thôn mới.

Ban chỉ đạo các xã tích cực, chủ động trong việc huy động ngân sách địa phương và các nguồn lực xã hội hóa cho xây dựng nông thôn mới, thực hiện lồng ghép Chương trình xây dựng nông thôn mới với các chương trình phát triển kinh tế-xã hội khác, cùng với nguồn vốn hỗ trợ trực tiếp của cấp trên để đẩy nhanh tiến độ thực hiện các tiêu chí nông thôn mới.

Bốn là, đẩy mạnh chỉ đạo phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, làng nghề

Tập trung triển khai các dự án phát triển sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ưu tiên phát triển những sản phẩm mà địa phương đang sản xuất, có lợi thế cạnh tranh, có thị trường ổn định; chú trọng đến tổ chức lại sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ và đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Phát triển các hình thức hợp tác kinh tế phù hợp đối với từng lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, thủy lợi, lâm nghiệp. Xây dựng và nhân rộng các mô hình hợp tác xã, tổ hợp tác hoạt động có hiệu quả; mô hình liên kết giữa nông hộ với doanh nghiệp để thúc đẩy kinh tế hộ, kinh tế trang trại phát triển.

Tùy theo điều kiện, lợi thế của từng địa phương để xây dựng phong trào mỗi địa phương có một sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có nhãn hiệu, thương hiệu, có sức cạnh tranh trên thị trường.

Năm là, xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật và bảo đảm vệ sinh môi trường nông thôn


Xây dựng hoàn thiện các công trình hạ tầng thiết yếu ở thôn, xã trực tiếp gắn với phát triển sản xuất, đời sống của nhân dân như giao thông, thủy lợi, nước sạch, môi trường. Chỉ đạo xây dựng và nhân rộng các mô hình ứng dụng khoa học - công nghệ và nâng cao nhận thức của người dân trong xử lý rác thải, nước thải từ hộ gia đình.

Giai đoạn 2016-2020, nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới rất lớn, cần nhiều kinh phí, tỉnh Hải Dương cần có các cơ chế, chính sách để huy động các nguồn lực, các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và hằng năm dành nguồn ngân sách thỏa đáng để hỗ trợ trực tiếp theo cơ chế đặc thù cho các xã sắp đạt chuẩn, đồng thời quan tâm hỗ trợ những xã khó khăn, có số tiêu chí nông thôn mới đạt thấp trong tỉnh để những xã này có điều kiện đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình.

Sáu là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển giáo dục, y tế và xây dựng đời sống văn hóa nông thôn mới, giữ vững an ninh trật tự ở nông thôn

Tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa nông thôn; giữ gìn và phát huy nét truyền thống văn hóa tốt đẹp của từng thôn, xã.

Cải thiện chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe ban đầu và khám chữa bệnh; thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế cho người dân nông thôn.

Giữ gìn an ninh trật tự ở nông thôn; chú trọng và nhân rộng mô hình tự quản về an ninh trật tự ở thôn, xóm; phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và người có uy tín trong cộng đồng.

Bảy là, đẩy nhanh tiến độ thực hiện đối với các xã khó khăn

Bên cạnh việc hỗ trợ các xã đăng ký đạt chuẩn nông thôn mới, tiếp tục quan tâm hỗ trợ các xã khó khăn, có số tiêu chí nông thôn mới đạt thấp để các xã có điều kiện xây dựng hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới.

Tám là, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách

Tiếp tục hỗ trợ các xã xây dựng nông thôn mới, trong đó ưu tiên hỗ trợ đầu tư các công trình hạ tầng thiết yếu, trực tiếp phục vụ sản xuất. Thực hiện tốt Đề án cơ cấu lại ngành nông nghiệp, Đề án phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2016-2020 và các Đề án thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hải Dương lần thứ XVI.

Tiếp tục triển khai hiệu quả Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới phù hợp với tình hình thực tiễn trong giai đoạn 2016-2020. Rà soát, nghiên cứu ban hành các chính sách giúp các xã tăng cường huy động nguồn lực để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của Chương trình, trong đó ưu tiên cho các xã khó khăn.

Tăng cường phân cấp cho xã, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân và cộng đồng thực sự làm chủ xây dựng nông thôn mới, theo cơ chế đặc thù rút gọn; bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm trong suốt quá trình thực hiện Chương trình./.
Phạm Thắng

Video