Thứ Hai, 29/5/2017
Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa - Tạo động lực cho nền kinh tế
27/12/2016 21:40' Gửi bài này In bài này
Sức cạnh tranh thấp của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên thị trường thế giới (Ảnh: vov.vn)
Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa

Doanh nghiệp nhỏ và vừa rất được coi trọng phát triển tại nhiều quốc gia bởi khu vực này là nguồn tạo việc làm, cạnh tranh và động lực phát triển kinh tế và đổi mới, đồng thời, do doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện diện ở nhiều vùng địa lý hơn so với các doanh nghiệp lớn nên chúng cũng góp phần vào việc phân bổ thu nhập tốt hơn. Đặc biệt, đối với các nền kinh tế đang phát triển, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa còn là thành phần quan trọng của sự phát triển kinh tế và xóa đói, giảm nghèo ở mức độ rộng khắp, là yếu tố chủ chốt và bền vững tạo ra việc làm và thu nhập cho lao động ngoài khu vực nhà nước.

Khu vực này còn được cho là động lực thúc đẩy cạnh tranh và môi trường kinh doanh bởi đây là khu vực nhạy bén, năng động và sẵn sàng đổi mới so với các doanh nghiệp lớn hơn và đã phát triển ổn định. Các doanh nghiệp này có thể chuyển đổi cơ cấu của một nền kinh tế thông qua đổi mới, cung cấp các đầu vào trung gian và dịch vụ, cho phép chuyên môn hóa mạnh hơn trong sản xuất. Trong chuỗi giá trị toàn cầu, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tận dụng thị trường ngách mà doanh nghiệp lớn bỏ qua, họ cũng có thể bắt tay với các doanh nghiệp nhỏ khác trong chuỗi để tái chuyên môn hóa, triển khai sản xuất năng suất hơn và tiêu thụ hiệu quả hơn.


Ở Việt Nam, trong những năm qua, nhờ chủ trương đúng đắn của Đảng, chính sách thông thoáng của Nhà nước, nên số lượng các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam đã hình thành và phát triển rất nhanh. Theo báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện cả nước có khoảng 520 nghìn doanh nghiệp nhỏ và vừa, chiếm 97% số doanh nghiệp đang hoạt động thực tế, với tổng số vốn đăng ký khoảng 130 tỷ USD, chiếm 1/3 tổng số vốn đăng ký của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp này đã và đang có đóng góp to lớn vào sự phát triển chung của đất nước, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói, giảm nghèo… Cụ thể, hằng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng trên - dưới 60% lao động xã hội và đóng góp khoảng 50% GDP, 33% thu nộp ngân sách nhà nước,…


Một số vấn đề đặt ra đối với phát triển khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa


Để tạo lực đẩy phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngày 22-4-2016, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức Lễ ra mắt Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Quỹ là Tổ chức tài chính nhà nước, trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, được thành lập theo Quyết định số 601/QĐ-TTg, ngày 17-4-2013 của Thủ tướng Chính phủ nhằm triển khai hiệu quả các chính sách trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo Nghị định số 56/2009/NĐ-Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, trong thời gian qua, Chính phủ cũng đã có những biện pháp hỗ trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển nguồn nhân lực. Hoạt động trợ giúp đào tạo nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được đưa vào kế hoạch hằng năm của các bộ, ngành và địa phương.


Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được nêu trên, các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn tồn tại một số hạn chế như sau:


Thứ nhất, hạn chế về công nghệ. Các số liệu thống kê cho thấy, phần lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu so với mức trung bình của thế giới từ 2 đến 3 thế hệ. Thêm vào đó, số doanh nghiệp chú trọng đầu tư cho khoa học - công nghệ hiện tại không nhiều. Việc đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp còn diễn ra chậm chạp. Theo báo cáo của Cục Ứng dụng và Phát triển công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), hiện Việt Nam đầu tư cho nghiên cứu và phát triển khoảng 1% GDP, trong đó từ Chính phủ chiếm 70%, từ doanh nghiệp chỉ chiếm 30%. Thực tế này cho thấy, mục tiêu đến năm 2020 đầu tư cho khoa học và công nghệ chiếm 2% GDP quốc gia, trong đó 3/4 là đầu tư từ hệ thống doanh nghiệp rất khó thực hiện.


Thứ hai, hiệu quả sản xuất, kinh doanh thấp, sức cạnh tranh kém. Trong mấy năm gần đây, khi kinh tế toàn cầu vẫn đang trong giai đoạn phục hồi chậm sau suy thoái, lượng cung hàng hóa nhiều hơn cầu, hầu hết giá nguyên liệu đầu vào của các ngành vẫn cao, trong khi giá bán sản phẩm không tăng dẫn đến sức tiêu thụ giảm sút mạnh, hàng tồn đọng nhiều. Nhiều doanh nghiệp phải chủ động thu hẹp sản xuất, hoạt động cầm chừng. Hiệu quả sản xuất, kinh doanh yếu kém của doanh nghiệp nhỏ và vừa dẫn đến khả năng cạnh tranh thấp, thua kém các doanh nghiệp nước ngoài ngay trên “sân nhà”.


Thứ ba, bất cập về trình độ quản lý và chất lượng nguồn lao động. Theo kết quả điều tra gần đây, có tới 75% lực lượng lao động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật. Về trình độ quản lý, cũng theo kết quả điều tra, đa số các chủ doanh nghiệp, ngay cả những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp, các lớp về pháp luật trong kinh doanh..., điều này ảnh hưởng lớn đến việc hoạch định chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh và quản lý, phòng tránh các rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp mình. Tình trạng thực hiện chưa đầy đủ các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi người lao động và giảm đi chất lượng công việc trong khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.


Thứ tư, quy mô nhỏ, thiếu vốn sản xuất, kinh doanh, chủ yếu dựa vào vốn tự có. Theo Báo cáo Thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2015 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), trong giai đoạn 2007 - 2015, các doanh nghiệp Việt Nam đang dịch chuyển theo hướng quy mô ngày càng nhỏ hơn. Lao động bình quân trong doanh nghiệp đã giảm từ 49 lao động năm 2007 xuống chỉ còn 29 lao động năm 2015. Trong đó, doanh nghiệp tư nhân giảm từ 27 lao động năm 2007 xuống còn 18 lao động năm 2015. Báo cáo cũng cho thấy, mặc dù chiếm đến 97% số lượng doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ chiếm chưa đầy 40% tổng nguồn vốn kinh doanh. Các doanh nghiệp gặp khó khăn đặc biệt trong việc tiếp cận các nguồn vốn tín dụng, chỉ có 30% các doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận được vốn từ ngân hàng, 70% còn lại phải sử dụng vốn tự có hoặc vay từ nguồn khác.


Hệ quả của sự yếu kém này thể hiện rõ nhất chính ở bức tranh ảm đạm về tình hình kinh doanh của khu vực này trong những năm qua. Tỷ lệ doanh nghiệp thua lỗ tiếp tục tăng cao từ 30% năm 2007 lên trên 40% năm 2015. Trong khi, hiệu suất sinh lời của các doanh nghiệp cũng giảm từ khoảng 4% năm 2007 xuống còn khoảng 3,6% năm 2015.


Về nguyên nhân của những hạn chế nêu trên, trước hết, về phía Chính phủ, còn thiếu những biện pháp thiết thực và hiệu quả để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, như tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, ở đó các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận tài chính, thị trường trong nước; hỗ trợ công nghệ tiên tiến và đổi mới; bảo đảm kết cấu hạ tầng tốt; bảo đảm an ninh trong hoạt động kinh doanh; luật pháp và khung pháp lý thống nhất, đồng bộ, minh bạch và hiệu lực cao; sự hỗ trợ trong mở rộng thị trường xuất khẩu. Các chính sách, chương trình trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện đang được thực hiện rời rạc, manh mún và không đến được với đối tượng trợ giúp. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa phản ánh rằng họ không biết hoặc không tiếp cận được với chính sách hỗ trợ của Nhà nước. Qua khảo sát Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 2015, có đến 65% doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ cho rằng, họ khó tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp. Báo cáo cho biết, chỉ có 20% - 30% các doanh nghiệp đã từng sử dụng các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; 51% - 61% số doanh nghiệp nhỏ và vừa có thông tin về các chính sách ưu đãi của các cơ quan trung ương và địa phương. Thấp hơn nhiều so với nhóm doanh nghiệp lớn là 77%. Đặc biệt, về nguồn vốn tín dụng, rất ít các doanh nghiệp nhỏ và cực nhỏ tiếp cận được vốn ưu đãi.


Để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ trong thời gian tới


Thực tiễn 30 năm đổi mới cho thấy, doanh nghiệp tư nhân (mà ở đây chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa) là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế ở nước ta. Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp nhà nước luôn nhận được nhiều ưu đãi và thuận lợi hơn khi tiếp cận nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh, còn khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cũng được hưởng lợi lớn từ các chính sách ưu đãi “trải thảm đỏ” của Nhà nước và chính quyền các cấp. Rõ ràng, đây là sự thiệt thòi cho các doanh nghiệp tư nhân. Thời gian tới, Việt Nam càng hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, đặc biệt các thỏa thuận thương mại tự do đã, đang và sẽ ký kết sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn năng động nhưng lại dễ bị tổn thương. Doanh nghiệp tư nhân nói chung và doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng cần được đối xử bình đẳng như các khu vực khác, vì đây là một trong những động lực quan trọng cho đổi mới và tăng trưởng của kinh tế Việt Nam.


Để thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển, trong thời gian tới, cần tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp này ở một số mặt sau:


Về xuất khẩu: Hình thành các quỹ hỗ trợ xuất khẩu cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các quỹ này có thể cung cấp các hoạt động xúc tiến xuất khẩu của doanh nghiệp nhỏ và vừa, như hỗ trợ tổ chức hoặc tham gia các hội chợ quốc tế; hỗ trợ cho các loại chứng nhận quốc tế liên quan đến chất lượng hàng xuất khẩu, các quy định liên quan đến hàng rào phi thuế quan như về môi trường; phát triển thị trường xuất khẩu mới; kết nối với các doanh nghiệp đối tác chiến lược quốc tế.


Về công nghệ: Cần có hình thức hỗ trợ đổi mới công nghệ tại doanh nghiệp nhỏ và vừa, như hỗ trợ các doanh nghiệp công nghệ cao; tạo thuận lợi cho thương mại hóa công nghệ được phát triển; phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa thâm dụng công nghệ tiên tiến với các đặc thù của Việt Nam; thúc đẩy hợp tác và phổ biến công nghệ thông qua biện pháp hợp tác công nghệ giữa các học viện, viện nghiên cứu, ngành công nghiệp và Chính phủ. Cần có cơ chế hỗ trợ tra cứu thông tin khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ để các doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể tiếp cận một cách có hiệu quả hơn nguồn thông tin sáng chế phục vụ nhu cầu sản xuất và đổi mới công nghệ.


Về tiếp cận tài chính, tín dụng: Cần tập trung tháo gỡ những khó khăn trong tiếp cận tài chính, tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ngân hàng Nhà nước bên cạnh việc điều hành lãi suất theo hướng duy trì lãi suất thấp, ưu đãi hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn, cần chỉ đạo các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại chủ động tiếp cận doanh nghiệp nhỏ và vừa để tư vấn cho vay các dự án kinh doanh có hiệu quả, mở rộng các loại hình cho vay dựa trên tín chấp và phương án kinh doanh. Khuyến khích các ngân hàng thương mại áp dụng hình thức đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp để mở rộng cho vay tín chấp đối với các doanh nghiệp có dự án, phương án sản xuất kinh doanh khả thi, cơ cấu lại các khoản vay vốn lãi suất cao trước đây. Nhà nước cần có chính sách khuyến khích ngân hàng thương mại có tỷ lệ dư nợ tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở mức cao.


Về thông tin: Hiện, doanh nghiệp nhỏ và vừa rất khó khăn trong tiếp cận thông tin về các chính sách, pháp luật, vì vậy, cần có chính sách tăng cường năng lực tiếp cận thông tin chính sách pháp luật cho khối doanh nghiệp này, như xây dựng trang thông tin điện tử về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp, trong đó cập nhật đầy đủ các chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa được ban hành từ cấp Chính phủ đến các bộ, ngành, địa phương, về các lĩnh vực như trợ giúp về thuế, hỗ trợ công nghiệp phụ trợ, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn, chính sách khoa học công nghệ đối với doanh nghiệp,... Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia. Tăng cường triển khai áp dụng đấu thầu qua mạng để khuyến khích và tạo điều kiện tiếp cận thông tin cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.


Về phát triển nguồn nhân lực: Triển khai có hiệu quả hoạt động trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực hằng năm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; định kỳ tổ chức điều tra, khảo sát để nắm bắt được nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực của doanh nghiệp nhỏ và vừa, qua đó có cơ sở đổi mới nội dung, phương thức phù hợp yêu cầu nguồn nhân lực; rà soát và lồng ghép các giải pháp tăng cường đầu tư phát triển dạy nghề nâng cao chất lượng nguồn lao động, đặc biệt là lao động kỹ thuật; hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động; phát triển các hình thức thông tin thị trường lao động, nhất là hình thức giao dịch về việc làm chính thức trên thị trường lao động nhằm kết nối cung - cầu lao động; tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong quá trình tuyển dụng lao động phù hợp với yêu cầu sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, tăng cường công tác đào tạo nâng cao năng lực quản trị cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tổ chức các hoạt động dưới nhiều hình thức nhằm tuyên truyền, khuyến cáo doanh nghiệp thực thi pháp luật.


Phát triển các vườn ươm: Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, để khuyến khích đổi mới và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp, rất cần tạo các trung tâm vườn ươm. Theo ưu tiên của Chính phủ, trước mắt, thí điểm xây dựng vườn ươm doanh nghiệp trong một số lĩnh vực ưu tiên, tập trung vào đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao, có tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường. Vì vậy, cần có hệ thống chính sách thúc đẩy thành lập doanh nghiệp mới và khả năng làm chủ doanh nghiệp trong các lĩnh vực này bao gồm tài trợ, nhân sự, thông tin và các dịch vụ hỗ trợ để thành lập doanh nghiệp.


Về nâng cao năng lực hội nhập: Việc Việt Nam tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), cũng như hàng loạt các hiệp định thương mại tự do đã tạo thêm những cơ hội mới giúp các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng. Bên cạnh sự đa dạng hóa nguồn cung, kinh nghiệm cho thấy việc tổ chức sản xuất theo cụm, ở đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong một chuỗi ngành hàng liên kết với nhau ở hầu hết các công đoạn có thể đưa ra một sản phẩm mới nhanh nhất và giá cả có năng lực cạnh tranh cao nhất. Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với đổi mới công nghệ tại các cụm, vườn ươm này là vô cùng quan trọng. Cùng với đó, các hiệp hội ngành hàng nên tổ chức cho các doanh nghiệp Việt Nam khảo sát thị trường nước ngoài, giúp các doanh nghiệp xây dựng và quảng bá thương hiệu. Các doanh nghiệp có tài sản sở hữu trí tuệ thì cần khẩn trương đăng ký để được bảo hộ như nhãn hiệu hàng hóa, tên doanh nghiệp, kiểu dáng công nghiệp hoặc chỉ dẫn địa lý./.

Phạm Việt DũngTS, Tạp chí Cộng sản

Video