Thứ Sáu, 26/5/2017
Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
15/3/2008 9:43' Gửi bài này In bài này
Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, với sự đồng thuận cao và sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X "Về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" sớm được quán triệt và thực hiện tốt trong cả nước, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng nhận định.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Sinh Hùng nêu rõ:

Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X được ban hành vào đúng dịp cả nước đón mừng xuân mới Mậu Tý với khí thế tích cực triển khai nhiệm vụ năm 2008 - năm bản lề của kế hoạch năm năm 2006 - 2010.

Vào thời điểm này, thành tựu hơn 20 năm đổi mới và kết quả hai năm thực hiện Nghị quyết Ðại hội X của Ðảng đã đem lại cho chúng ta niềm phấn khởi, khơi dậy khí thế mới và niềm tin to lớn ở tương lai của Tổ quốc. Trên cơ sở đó, toàn Ðảng, toàn dân phát huy trí tuệ, chung sức, chung lòng hoàn thành vượt mức các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 để tạo thế và lực vững vàng bước sang thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Thực tế khách quan sau hơn 20 năm đổi mới cho thấy, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN). Ðây là một bước chuyển biến đặc biệt, chưa từng có kinh nghiệm trong lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Vậy mà những động thái và kết quả đổi mới thể chế kinh tế chẳng những không gây xáo trộn sự ổn định chính trị, mà còn tác động hết sức tích cực đến sự bền vững và đổi mới đúng hướng, khoa học thể chế chính trị.

KTTT là sản phẩm của văn minh nhân loại, đã đạt đến trình độ phát triển nhất định, từ những nền sản xuất hàng hóa trước khi chủ nghĩa tư bản ra đời, bởi vậy tuy nó được phát triển tới trình độ cao dưới chủ nghĩa tư bản, nhưng bản thân KTTT không đồng nghĩa với chủ nghĩa tư bản.

Với tư cách là một phương thức hay phương tiện chứ không phải mục đích, KTTT hoàn toàn có thể và cần thiết sử dụng trong tiến trình xây dựng CNXH.

Thực tiễn đổi mới hơn 20 năm qua ở nước ta đã chứng minh đầy sức thuyết phục điều đó. Chúng ta đã xây dựng một nền kinh tế với nhiều hình thức sở hữu, nhiều loại hình doanh nghiệp đan xen, hỗn hợp, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; đồng thời từng bước tạo lập và phát triển toàn diện các loại thị trường cơ bản, việc quản lý nhà nước về kinh tế được chuyển đổi ngày càng dứt khoát hơn, từ can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính sang sử dụng hợp lý và khoa học hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách và các công cụ điều tiết vĩ mô tương thích với quy luật khách quan của KTTT hiện đại.

Trong quá trình đó, chúng ta luôn coi nhân tố quyết định là phát huy nội lực, đúc rút kinh nghiệm từ những bài học thành công và chưa thành công để đổi mới ngày càng đúng đắn và hiệu quả hơn. Ðồng thời thông qua việc mở cửa, hội nhập ngày càng sâu rộng hơn và chú trọng khai thác, chuyển hóa các nguồn ngoại lực thành một bộ phận hợp thành sức mạnh nền kinh tế quốc dân, kế thừa có chọn lọc thành tựu phát triển KTTT của thế giới, trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng trở thành xu thế tất yếu của thời đại.

Hội tụ thành quả của hệ thống các chủ trương, giải pháp nêu trên là sự phân phối ngày càng hợp lý, hiệu quả hơn các nguồn lực của đất nước và giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất; là cuộc đua tài ngày càng bình đẳng hơn giữa các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và sự đồng thuận ngày càng cao giữa Ðảng và các tầng lớp nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước, trong công cuộc chấn hưng đất nước.

Chúng ta đang tăng tốc hướng tới một thể chế mà trong đó, cơ hội dành cho mọi người đều như nhau, chế độ phân phối không cào bằng mà thật sự đúng nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động và mức đóng góp vào thành quả chung. Bên cạnh đó, thông qua các công cụ phân phối lại như bảo hiểm, chính sách xã hội và đầu tư phát triển văn hóa, y tế, giáo dục mà quan tâm đến các cán bộ, gia đình có công với Tổ quốc và một bộ phận dân cư, do những hạn chế khách quan bất khả kháng, mà không hoặc chưa có khả năng tham gia mưu sinh trong điều kiện môi trường KTTT cạnh tranh quyết liệt.

Ðó chính là bảo đảm giải quyết hài hòa quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Với những thành tựu đã đạt được, "việc sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển" (Văn kiện Ðại hội X, NXB Chính trị quốc gia 2006, trang 23) đã sắp trở thành câu chuyện của ngày hôm qua và thực tế của ngày hôm nay là ngay trong năm 2008 này, chúng ta quyết phấn đấu hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu chủ yếu của toàn giai đoạn, trong đó GDP bình quân đầu người đạt khoảng 960 USD (vượt ngưỡng nước đang phát triển có thu nhập thấp) và tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 11 - 12% (về đích trước hai năm)...

Ðiều kiện tiên quyết để khởi động công cuộc đổi mới là đổi mới tư duy để chỉ đạo thực tiễn đổi mới tổ chức cán bộ, phương pháp lãnh đạo, phong cách công tác, cơ chế chính sách...; nhưng thực tiễn, đến lượt nó lại tác động hết sức tích cực đến tiến trình đổi mới tư duy.

Nghị quyết Ðại hội X, khi xác định những nguyên nhân dẫn đến một số khuyết điểm, yếu kém trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Ðại hội IX, đã nêu nguyên nhân chủ quan đầu tiên là: "Tư duy của Ðảng trên một số lĩnh vực chậm đổi mới. Một số vấn đề ở tầm quan điểm, chủ trương lớn chưa được làm rõ cho nên chưa đạt được sự thống nhất cao về nhận thức và thiếu dứt khoát trong hoạch định chính sách, chỉ đạo điều hành" (trang 65, sách đã dẫn).

Những vấn đề chưa đủ rõ, chưa đạt được sự thống nhất cao và thiếu dứt khoát... đó thường thuộc về lĩnh vực kinh tế (như sở hữu, thành phần kinh tế, cổ phần hóa, mô hình doanh nghiệp, độc lập tự chủ và mức độ mở cửa, hội nhập...).

Văn kiện Ðại hội X của Ðảng đã chỉ rõ ba lĩnh vực được coi là ba khâu đột phá để đổi mới, phát triển nhanh và bền vững hơn, trong đó khâu đầu tiên là "xây dựng đồng bộ thể chế KTTT định hướng XHCN mà trọng tâm là đổi mới cơ chế, chính sách". Vậy mà đã qua hai năm thực hiện nghị quyết, bên cạnh những thành tựu cơ bản nêu trên, vẫn còn nhiều mặt yếu kém và chậm chuyển biến: quá trình xây dựng thể chế chưa theo kịp yêu cầu khách quan của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, các yếu tố của thị trường và các loại thị trường hình thành chậm, thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt, độ an toàn và vững chắc chưa cao, phân bổ nguồn lực quốc gia chưa hợp lý, việc xây dựng mô hình mới về doanh nghiệp và đơn vị sự nghiệp công lập còn lúng túng, chính sách tiền lương còn mang tính bình quân, chưa bảo đảm đời sống của người hưởng lương, chưa khuyến khích, thu hút và sử dụng được người tài...

Thực tiễn phát triển nhanh về kinh tế, ổn định về chính trị, xã hội và vị thế ngày càng cao của đất nước trên trường quốc tế và cả những mặt hạn chế, yếu kém nêu trên, khi được chỉ rõ nguyên nhân, đã tác động rất mạnh đến đổi mới tư duy, nhận thức trong Ðảng, dẫn đến sự thống nhất ở cấp độ cao hơn và bình diện rộng hơn, tạo điều kiện chín muồi cho sự ra đời Nghị quyết T.Ư 6 (nêu trên) "Về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", với nội dung và ý nghĩa chủ yếu là "tiếp tục" ở tốc độ nhanh hơn, mức độ cao và toàn diện hơn. Nghị quyết đã nêu rõ năm chủ trương và giải pháp cụ thể như sau:

1- Thống nhất nhận thức về nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta.

Ðó là nền kinh tế mà trong đó các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành được tự giác tạo lập và sử dụng để giải phóng mạnh mẽ nhất sức sản xuất, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Là nền kinh tế vừa tuân theo các quy luật khách quan của thị trường, vừa chịu sự chi phối bởi các quy luật kinh tế và các mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, thông qua vai trò quản lý, điều hành định hướng của Nhà nước, do Ðảng Cộng sản - đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam - lãnh đạo.

2- Hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp và các tổ chức sản xuất kinh doanh.

Chúng ta khẳng định sự tồn tại khách quan, lâu dài và khuyến khích sự phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, các loại hình doanh nghiệp, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu trong nền kinh tế, thông qua việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và xây dựng nhà nước pháp quyền. Các tài sản hữu hình và vô hình đều cần được luật hóa về sở hữu (trong đó có các tài sản mới được xác định như trí tuệ - bản quyền phát minh, sáng chế, chứng khoán, tài nguyên nước, khoáng sản...).

Ðất đai thuộc sở hữu toàn dân mà đại diện là Nhà nước; các quyền của người sử dụng đất theo các quy định hiện nay của pháp luật được tôn trọng và bảo đảm. Quyền sở hữu, quản lý, kinh doanh tài sản và vốn của Nhà nước trong các doanh nghiệp được thực hiện theo phương thức mới (như mô hình Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước), qua đó tách bạch chức năng Nhà nước là bộ máy công quyền quản lý toàn bộ nền kinh tế - xã hội với chức năng quản trị kinh doanh của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, Nhà nước cũng tiếp tục bổ sung cơ chế, chính sách, pháp luật khuyến khích, hỗ trợ phát triển sở hữu tập thể, khuyến khích liên kết hỗn hợp giữa sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân, làm cho chế độ cổ phần, sở hữu hỗn hợp trở thành hình thức sở hữu chủ yếu của các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.

Nói chung, nhóm giải pháp thứ hai này có nội dung phong phú, vai trò quan trọng và tác động rộng lớn, mạnh mẽ đến tất cả các chủ thể trong nền kinh tế. Ðó là các vấn đề:

- Hoàn thiện chính sách phân phối và phân phối lại như thế nào để các nguồn lực của đất nước ngày càng được sử dụng với hiệu quả cao hơn và giải quyết tốt hơn các quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội, giữa lợi ích Nhà nước, doanh nghiệp và người lao động, giữa các khu vực, vùng, miền...

- Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể trong nền kinh tế như thế nào để doanh nghiệp nhà nước góp phần đắc lực vào vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đồng thời các loại hình doanh nghiệp khác cùng phát triển mạnh mẽ, cùng hợp tác đầu tư lẫn nhau, liên doanh, liên kết và cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong cùng một mặt bằng pháp lý.

- Tăng cường đầu tư và đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước để các đơn vị sự nghiệp công lập phát triển mạnh mẽ, có hiệu quả. Thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp về tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự và về tài chính trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao. Trong lĩnh vực này có các cơ quan báo chí - một loại hình đơn vị sự nghiệp có nhiều nét đặc thù, có chức năng, nhiệm vụ rất quan trọng và nặng nề, đồng thời là công cụ sắc bén của Ðảng, Nhà nước trên mặt trận tư tưởng - văn hóa.

Cần nhanh chóng có cơ chế mới (nhất là chính sách tài chính - mô hình quản lý) thay thế những quy chế không còn phù hợp để tạo điều kiện cho lực lượng báo chí Việt Nam phát triển theo mô hình báo chí - truyền thông hiện đại, có bản lĩnh chính trị - nghiệp vụ vững vàng, tiềm lực kinh tế mạnh, kỹ thuật - công nghệ tiên tiến để hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ trong tình hình mới.

3- Hoàn thiện thể chế bảo đảm đồng bộ các yếu tố của thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường.

Trong nhóm giải pháp này, có một số điểm cần chú ý sau đây: Tiếp tục hoàn thiện thể chế về giá, về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền trong kinh doanh, thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước. Ða dạng hóa các loại thị trường hàng hóa, dịch vụ theo hướng văn minh, hiện đại, tương thích với các phương thức giao dịch quốc tế theo các cam kết và lộ trình mở cửa hội nhập ngày càng cao.

Ðặc biệt chú trọng đổi mới hoạt động của Ngân hàng Nhà nước theo đúng chức năng của một ngân hàng trung ương hiện đại, trên cơ sở đó phát huy tốt hơn vai trò điều hành thị trường tiền tệ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát.

Bên cạnh đó là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại, thực hiện tốt việc cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước, thu hút được các đối tác chiến lược (kể cả trong và ngoài nước), song Nhà nước giữ cổ phần chi phối.

Ðồng thời, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật để thị trường chứng khoán tiếp tục phát triển lành mạnh, thị trường bảo hiểm phát triển đa dạng với chất lượng cao, các quyền về đất đai, bất động sản vận động theo cơ chế thị trường, phát huy vai trò một nguồn vốn to lớn trong sản xuất kinh doanh...

Thị trường sức lao động cũng nằm trong bối cảnh chung của mở cửa hội nhập, sự liên thông ngày càng cao với thị trường khu vực và quốc tế. Do đó, tiền lương phải được coi là giá cả sức lao động, hình thành theo quy luật thị trường. Hệ thống chính sách, pháp luật về tiền lương, tiền công phải sớm hoàn thiện theo nguyên tắc đó; lộ trình điều chỉnh tiền lương và trợ cấp xã hội giai đoạn 2008 - 2012 cần đẩy nhanh hơn, thực hiện tốt hơn đi đôi với kiểm soát lạm phát để bảo đảm thu nhập thực tế ngày càng tăng cho người hưởng lương.

4- Hoàn thiện thể chế gắn kết tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển và bảo vệ môi trường.

Ðây vừa là những mục tiêu, vừa là những giải pháp đồng hành, mật thiết trong tất cả các giai đoạn phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta. Chúng ta đã đạt được những thành tích trong các chương trình giảm nghèo, được thế giới đánh giá rất cao.

Ðể phát huy kết quả đó, Nghị quyết chỉ rõ: Tiếp tục khuyến khích làm giàu đi đôi với tích cực giảm nghèo, vươn lên no ấm, tập trung đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở một số vùng trọng điểm có tỷ lệ hộ nghèo cao, thu hẹp hợp lý khoảng cách giàu nghèo giữa các đối tượng, các vùng, không để sự chênh lệch đó trở thành vấn đề xã hội bức xúc. Cần phải quán triệt và thực hiện tốt chủ trương đó bởi lẽ, chính sách giảm nghèo không chỉ nhằm mục tiêu ổn định, mà còn tạo động lực cho sự phát triển, và trách nhiệm của Nhà nước là phải tạo điều kiện cho mọi công dân nắm bắt được cơ hội làm ăn và hưởng thành quả chung của phát triển...

5- Hoàn thiện thể chế, nâng cao vai trò lãnh đạo của Ðảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế, tăng cường sự tham gia của các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp và của nhân dân vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội.

Trong nhóm chủ trương, giải pháp này, có ba nội dung chủ yếu (đều liên quan mật thiết đến Nghị quyết Trung ương 5 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng):

Một là, Ðảng tăng cường chỉ đạo nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để xác định rõ, cụ thể và đầy đủ hơn mô hình KTTT định hướng XHCN. Coi trọng đổi mới tư duy, công tác tuyên truyền, giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thống nhất nhận thức về vấn đề này, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Ðổi mới công tác tổ chức và cán bộ, đặc biệt là cán bộ trong lĩnh vực xây dựng và thực thi thể chế kinh tế...

Hai là, đổi mới, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước phù hợp với những yêu cầu của quá trình phát triển thể chế mới và hội nhập kinh tế quốc tế...

Ba là, nâng cao vai trò của các tổ chức dân cử, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp và của nhân dân để tham gia có hiệu quả vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát thực hiện pháp luật, chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Những nội dung của nghị quyết dù đã rõ trên những vấn đề, những chủ trương và giải pháp cơ bản, chủ yếu, nhưng chắc chắn rằng còn nhiều điều cần tiếp tục cụ thể hóa, bổ sung và hoàn thiện trong quá trình thực hiện.

Chúng ta tin chắc rằng, với sự phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận cao và sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa X "Về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" sớm được quán triệt và thực hiện tốt trong cả nước.

Video