Thứ Ba, 16/10/2018
Cảm hứng cội nguồn trong thơ viết về Đền Hùng
25/4/2018 19:13' Gửi bài này In bài này


Những câu ca: “Ai về Phú Thọ cùng ta/ Nhớ ngày giỗ Tổ tháng ba mồng mười” hay: “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba” thật sự đã trở thành những lời nhắn nhủ tự bao đời. Chứng tỏ, nhu cầu hướng về nguồn cội không phải chỉ của riêng một thời đại, mà nó đã trở thành hằng số tư tưởng yêu nước.

Trong bài thơ chữ Hán: “Thu nguyệt đăng Hùng Vương tự” (Ngày thu thăm Đền Hùng) của Nguyễn Quang Bích viết (nguyên văn chữ Hán), bản dịch là: “Đất trời thuở trước dựng thần châu/ Một dải non song đẹp cảnh thu/ Đỉnh núi lững lờ mây nhẹ thoảng/ Sườn non róc rách suối quanh co”. Nếu như cảm hứng của tác giả trong bài thơ này là ngợi ca cảnh đẹp nơi mộ Tổ thì thi sĩ Đặng Minh Khiêm lại nhiệt thành ngợi ca công đức của Vua Hùng với một tấm lòng biết ơn sâu sắc: “Vương Hầu văn võ thảy là Hùng/ Mười tám đời vua hiệu vẫn chung/ Đời trải hơn nghìn, con cháu tiếp/ Trưng Vương còn giữ nếp Tiên Rồng”.

Nhớ ngày giỗ Tổ hướng về Đền Hùng, đó là một phong tục đẹp của truyền thống văn hóa Việt Nam, gắn với truyền thống ân nghĩa “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Về Đền Hùng để tưởng nhớ tri ân tiền bối, cũng là để nhân lên linh khí tổ tiên, thức dậy trong mọi người tinh thần ái quốc. Khi đất nước đắm chìm trong nô lệ, năm 1920 thi sĩ Nguyễn Ngô Đan đã ghi lại điều đó: “Tinh linh phảng phất lặng còn đó/ Đất nước tan tành Tổ biết không?/ Cầu khấn xin cho soi xét lại/ Mau mau cứu với giống Tiền Rồng”. Những câu thơ thật sự day dứt, nặng nỗi xót xa đau đớn trước cảnh non sông bị chà đạp. Cảm hứng về cội nguồn ở đây trở thành ý thức dân tộc, mang nội dung yêu nước cháy bỏng, thiết tha. Ý thức bảo vệ nòi giống còn biểu hiện trong sự khẳng định tính bền vững của cội nguồn, đó là nội dung yêu nước tiến bộ trong thơ Đền Hùng của các tác giả đầu thế kỷ hai mươi này: “Dân ta đó hai mươi triệu lẻ/ Đất dẫu khác trên rừng dưới bể/ Rồng là Cha, Tiên là mẹ vốn ngày xưa/ Núi sông còn đó trơ trơ…” (Dương Mạnh Huy).

Viết về Đền Hùng, các tác giả chú ý nhiều đến những truyền thuyết về Vua Hùng, về đền thờ Thánh Gióng, về Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ, Đền Giếng. Ứng với mỗi truyền thuyết đó là một đề tài văn học được mở rộng. Cảm hứng về những anh hùng dân tộc, về nguồn gốc tổ tiên trong thơ của các nhà thơ hiện đại là những cảm hứng hào hùng. Vào thăm Đền Giếng, Nguyễn Đình Ảnh như được đắm mình trong mát trong êm ả của cội nguồn: “Bão giông giặc giã liên miên/ Mà sao nước vẫn trong nguyên đến giờ/ Đứng bên miệng giếng sững sờ/ Ai từng soi đến bây giờ là tôi!/ Lo toan suốt cả một thời/ Soi vào lòng giếng thảnh thơi lạ lùng!”.

Cảm hứng hào hùng về nơi đất Tổ có lúc cháy bùng thành cảm hứng thời đại trong tứ thơ chắc, khỏe của Nông Quốc Chấn: “Đứng trên ngọn núi Hùng/ Nhìn bốn phương trời đất/ Bốn nghìn năm sau lưng/ Rực rỡ đường trước mặt” (Đường trước mặt). Hoặc trong cách diễn đạt hóm hỉnh, độc đáo giàu chất trí tuệ kiểu Phạm Tiến Duật: “Năm Công nguyên thứ nhất là cái trụ xoay/ Một nghìn chín trăm bảy mươi lăm năm sau là năm tháng chúng ta đang sống/ Một nghìn chín tram bảy mươi lăm năm trước là niên đại Hùng Vương/ Dân tộc ta là con chim Lạc ấy/ Hai cánh thời gian đập sáng một con đường” (Chim Lạc bay).

Đền Hùng trở thành biểu tượng bền vững của Tổ tiên người Việt, Tổ tiên của một cộng đồng giàu lòng yêu nước. Nhiều nhà thơ của nhiều thế hệ gặp nhau ở đề tài Đền Hùng. Quá khứ và hiện tại Đền Hùng gặp nhau, hòa quyện và soi sáng, tiếp sức cho nhau. Cánh chim Lạc từ quá khứ huyền thoại vẫn băng mình, mải miết phía ngày mai mà đường bay ấy chính là dấu nối tinh thần xuyên qua mọi thời đại. Tiếng hát xoan hát ghẹo, tiếng trống đồng vẫn cứ ngân nga trong nắng xuân của cuộc đời hiện tại, vẫn thiết tha hấp dẫn lạ kỳ: “Ơi tiếng hát vùng đồi/ Trang trắng màu hoa sở/ Quê người - riêng người nhớ/ Sao tôi thì… bâng khuâng” (Về theo lời hát - Nghiêm Thị Hằng).

Tiếng hát xoan, hát ghẹo làm lòng người bâng khuâng, còn tiếng trống đồng ngân nga vang vọng cả một bề dày truyền thống đấu tranh oanh liệt, mãi mãi âm giai khúc ca hùng tráng vọng từ tổ tiên. Truyền thống văn hóa, văn hiến được kết tinh trong những họa tiết hoa văn tài hoa của trống đồng, tỏa sáng đến cuộc đời hôm nay. Nhà thơ Hoàng Hữu như lạc vào thế giới huyền thoại, thần kỳ nguồn cội ấy: “Trống đồng sau lớp đất vùi/ Vẫn ban mai một mặt trời đang lên/ Nét cổ xưa vẫn tươi nguyên/ Khi bay vút, lại thanh mềm nét buông”.

Âm vang của trống, hoa văn của trống hội tụ bản sắc dân tộc, tượng trưng cho sức mạnh tinh thần và khí thiêng sông núi: “Một thời giặc giã khôn cùng/ Trống đồng giục mũi tên đồng vút lên/ Sóng tung lấp lóa chiến thuyền/ Sông sâu từng đã nhấn chìm giặc tan” (Trống đồng trên đất đai truyền thuyết). Tiếng trống đồng lại ngân vang trong thời đại Hồ Chí Minh. Lời dạy thiêng liêng của Bác như khắc vào đá, như thấm vào đất và nước: “Các vua Hùng đã có công dựng nước/ Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Và, đất Tổ cũng từng thao thức suốt những năm tháng “Trường Sơn đông nắng, tây mưa…” trong tâm sự của nhà thơ Nguyễn Thái Vận: “Ngọn núi Hùng xanh như một trái tim/ Đập suốt bốn nghìn mùa xuân sinh nở/ Nhịp đập anh hùng thời đánh Mỹ/ Khắp thân mình, từ Lũng Cú đến Cà Mau”. Và, hôm nay đất Tổ đang tươi xanh một màu xanh tiền sử: “Mây đó chăng hay sắc đá Hùng Vương/ Thành đóng cửa, vua dàn voi tập trận/ Rất thanh thản tươi xanh đồi Nghĩa Lĩnh/ Chiều trung du hồn hậu gió Châu Phong” (Trở lại Đền Hùng - Ngô Văn Phú).

Làng cổ Thậm Thình qua những câu thơ tài hoa của Nguyễn Bùi Vợi hiện lên với không gian dã sử, không gian truyền thuyết quyện trong vẻ đẹp nguy nga của không gian hiện tại: “Không còn dấu cũ lầu son/ Phía sau, thành phố khói vờn trong mây/ Trời cao, bóng tỏa đường cây/ Nhịp chày xưa thoảng đâu đây… thậm thình” (Qua Thậm Thình).

Như một dòng sữa vô tận chảy suốt không gian và thời gian lịch sử, cảm hứng cội nguồn tạo nên dấu nối, điểm gặp và biểu tượng trường tồn về niềm tri ân Tiên Tổ của các thi sĩ tự cổ chí kim, mãi mãi được đắp bồi và tỏa sáng đời sống tinh thần phong phú của con người Việt Nam yêu nước, thủy chung./.


TS. Nguyễn Trọng HoànBộ Giáo dục và Đào tạo

Video