Thứ Tư, 23/8/2017
Xây dựng nông thôn mới ở vùng cao: Cần chú trọng tính đặc thù về tự nhiên và văn hóa - xã hội
23/1/2017 14:37' Gửi bài này In bài này
Học sinh đồng bào Cơ Tu được học ở những ngôi trường khang trang

Bất cập về các tiêu chí nông thôn mới

Quyết định số 21/QĐ-UB, ngày 26-01-1993 của Ủy ban Dân tộc và Miền núi là cơ sở để nhận diện các xã, huyện, tỉnh là miền núi và vùng cao. Sau này Ủy ban Dân tộc và Miền núi căn cứ vào điều kiện địa hình, đời sống kinh tế - xã hội để ban hành danh sách các thôn, xã, huyện là khu vực I, II, III. Khu vực III là khu vực đặc biệt khó khăn.

Vùng cao là vùng có nhiều khó khăn, địa hình chủ yếu là núi cao, độ dốc lớn, địa hình chia cắt mạnh, giao thông kém phát triển. Địa bàn các xã vùng cao có mật độ dân số thấp (thường là diện tích của một xã vùng cao bằng của một huyện vùng thấp). Đây cũng là vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất toàn quốc. Chính đặc điểm khó khăn của vùng cao tạo nên tính đặc thù trong xây dựng nông thôn mới. Đến nay, nhiều xã vùng cao chưa đạt được tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Nguyên nhân chủ yếu là thiếu các tiêu chí đặc thù. Các tiêu chí nông thôn mới đều mang tính toàn quốc, phù hợp với vùng thấp hơn và chưa thực sự phù hợp với vùng cao.

Trước hết, các tiêu chí “cứng”, như đường giao thông, nhà văn hóa, chợ, nghĩa trang (thuộc tiêu chí môi trường)... đều bất cập. Ở vùng cao, người dân cư trú trên sườn núi, đỉnh đồi có độ dốc lớn, khó tạo được mặt bằng xây dựng các công trình như chợ, nhà văn hóa, trường học... Trong tiêu chí xây dựng nông thôn mới, mỗi xã phải quy hoạch có chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng. Diện tích xây dựng chợ ở vùng cao bình quân có từ 2.000-3.000m2. Mỗi điểm kinh doanh phải có 12m2 (lại còn diện tích khu vực mua bán ngoài trời, diện tích đường giao thông nội bộ, bãi đỗ xe, nơi thu gom rác thải). Như vậy, diện tích mặt bằng của chợ vùng cao là rất lớn, các xã vùng cao khó có điều kiện thực hiện. Nhưng khó hơn là ở hầu hết các xã vùng cao, kinh tế của đồng bào các dân tộc Mông, Dao, Hà Nhì, Mảng, La Hủ, Cống, Si La... đều mang nặng tính chất tự cung, tự cấp. Mỗi hộ gia đình đều sản xuất tự đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Họ làm ra tất cả, tự chăn nuôi, trồng trọt nên nhu cầu và khả năng buôn bán hàng hóa không lớn (ngoài nhu cầu mua một số hàng thiết yếu như xăng dầu, quần áo, muối...). Do đó, người dân không có nhu cầu đi chợ thường xuyên. Thiếu các mặt hàng nhu yếu phẩm thì họ mua ở quán tạp hóa ở đầu bản, gần trường học. Chỉ có một số xã người dân trồng cây đặc sản, buôn bán qua biên giới mới có nhu cầu đi chợ thường xuyên. Chính vì đặc điểm này nên nhiều xã vùng cao xây dựng chợ xong lại bỏ hoang. Ở tỉnh Lào Cai, huyện Văn Bàn có 5 chợ thì 4 chợ bỏ hoang hoặc hiệu quả rất thấp. Từ năm 2004 - 2013, Lào Cai có 18 chợ bỏ hoang hoặc hoạt động không hiệu quả. Tỉnh Cao Bằng riêng năm 2015 có tới 6 chợ bỏ hoang, không hoạt động. Huyện miền núi Quỳ Châu của tỉnh Nghệ An xây được 4 chợ thì 3 chợ bị bỏ hoang (1). Vì vậy, không nên đặt ra tiêu chí chợ trong xây dựng nông thôn mới ở vùng cao. Không nhất thiết quy hoạch nhiều chợ ở hầu hết các xã như hiện nay. Ở vùng cao, chỉ một số xã ở trung tâm cụm mới quy hoạch có chợ. Còn các xã khác chỉ nên quy hoạch hoặc xây dựng các điểm bán hàng tạp hóa, bán nhu yếu phẩm. Vì vậy, Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới cần bỏ tiêu chí về xây dựng chợ hoặc bỏ phương thức quy hoạch chợ tràn lan như hiện nay.

Bên cạnh đó, trong tiêu chí về giao thông thì yêu cầu cần phải có tỷ lệ 50% đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện. Điều này rất bất cập đối với vùng cao. Các cánh đồng vùng cao rất nhỏ bé, nhiều nơi chỉ là những thửa ruộng bậc thang có bề ngang khoảng 3m - 5m chạy vòng vèo quanh núi, không như đồng bằng hoặc các thung lũng vùng thấp có cánh đồng rộng. Diện tích ruộng bậc thang hạn hẹp, vì thế, người dân không bao giờ phá ruộng bậc thang để xây dựng đường nội đồng rộng cho xe cơ giới đi lại thuận tiện theo quy định.

Ở hầu hết các xã vùng cao chưa đạt tiêu chí xây dựng nông thôn mới, chủ yếu là do các tiêu chí phần “cứng” như tiêu chí số 7 về xây dựng chợ, tiêu chí số 2 về xây dựng đường giao thông (nhất là sự cứng hóa đường giao thông nội đồng giúp xe cơ giới đi lại thuận tiện), tiêu chí số 6 về xây dựng cơ sở vật chất văn hóa (nhà văn hóa, khu luyện tập thể thao), tiêu chí số 17 về môi trường (xây dựng nghĩa trang). Trong đó, tiêu chí số 6 về xây dựng cơ sở vật chất văn hóa là tiêu chí khó khăn nhất. Ngày 09-10-2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có văn bản hướng dẫn về việc sửa đổi Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL và Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL nhưng các xã vùng cao cũng rất khó đạt được tiêu chí xây dựng nhà văn hóa xã. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là Bộ đầu tiên có tiêu chí dành riêng cho các xã vùng cao (Thông tư số 05/2014/TT-BVHTTDL), còn các bộ khác chỉ nói chung chung về khu vực trung du miền núi. Tuy nhiên, tiêu chí xây dựng nhà văn hóa xã (với diện tích 200m2), khu luyện tập thể thao xã (với diện tích 500m2, chưa tính sân vận động) vẫn là một thách thức đối với vùng cao vì khó có xã nào tìm được mặt bằng ở vị trí trung tâm để xây dựng được khu luyện tập thể thao và nhà văn hóa. Mặt khác, các nhà văn hóa xã ở vùng cao xây dựng xong lại bỏ hoang hoặc chỉ sử dụng định kỳ cho các đội thông tin tuyên truyền lưu động, chiếu bóng lưu động có buổi hoạt động. Có thực trạng như vậy vì ở vùng cao, cấp xã đóng vai trò rất mờ nhạt trong hoạt động văn hóa. Xã ở vùng cao có địa bàn rất rộng. Mỗi xã có hàng chục thôn bản, buôn làng khác nhau, các thôn bản, buôn làng lại mang tính khép kín, độc lập không có sự cố kết với nhau về văn hóa. Vì vậy, nhà văn hóa xã xây dựng ở địa bàn một làng cụ thể sẽ đứng chơ vơ, không có dân đến hoạt động, hoặc chỉ đóng vai trò là nhà văn hóa của thôn sở tại - nơi có trụ sở của chính quyền xã. Tính khép kín, cố kết cộng đồng theo đơn vị làng lớn nên người dân thôn bản này sẽ không sang thôn bên sinh hoạt văn hóa. Hơn nữa, khoảng cách giữa các thôn ở miền núi quá xa nên điều đó cũng khó thực hiện. Do đó, thiết chế nhà văn hóa xã khó phù hợp với vùng cao, chỉ nên xây dựng nhà văn hóa ở các xã trung tâm cụm dân cư, là thị tứ hoặc gắn liền với các cơ sở kinh tế nông, lâm trường. Ở các điểm trung tâm này có cả cư dân phi nông nghiệp, có thời gian rỗi sẽ có nhiều điều kiện hoạt động nhà văn hóa, đến sinh hoạt ở các điểm bưu điện văn hóa xã.

Trong khi đó, thôn bản, buôn làng vùng cao lại đóng vai trò rất quan trọng cả về kinh tế - xã hội - văn hóa. Cần xác định rõ thôn bản, buôn làng là đơn vị cơ sở của văn hóa. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở vùng cao chính là xây dựng các thôn bản, buôn làng văn hóa. Thôn bản, buôn làng là đơn vị cộng đồng, cố kết được các hoạt động văn hóa chung. Đó cũng là cấp gần dân nhất mà mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự chỉ đạo của chính quyền các cấp có đến được với người dân hay không đều thông qua cấp thôn bản, buôn làng. Mặt khác, hiện nay các thôn bản, buôn làng miền núi không có một công trình công cộng để hội họp, hoạt động chung. Nhu cầu về thông tin, giáo dục, sáng tạo, hưởng thụ văn hóa, giải trí... của người dân khó được đáp ứng nếu không có nhà văn hóa cộng đồng. Điều này phản ánh thực trạng bùng nổ việc xây dựng thiết chế văn hóa thôn bản, buôn làng trong thời gian qua ở vùng cao. Hầu hết các nhà văn hóa thôn bản, buôn làng ở các tỉnh Tây Bắc đều được sử dụng. Khảo sát ở xã Tả Ngảo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu là một xã vùng cao xây dựng được 7 nhà văn hóa thôn bản, buôn làng. Trong tháng 5-2016, nhà văn hóa này hoạt động nhiều nhất là 8 lần/tháng (nhà văn hóa thôn Thà Giàng Chải), còn các nhà văn hóa ở các thôn khác đều hoạt động từ 2-3 lần/tháng (chủ yếu là hội họp, mở các lớp tập huấn, điểm tuyên truyền của các đoàn thể, các dự án, biểu diễn văn nghệ của thiếu nhi...). Khác với nhà văn hóa thôn, các nhà văn hóa xã hoạt động không hiệu quả. Xã Tả Ngảo, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xây dựng một nhà văn hóa xã chủ yếu dùng cho hoạt động của cán bộ xã. Nhà văn hóa xã trở thành nhà thi đấu cầu lông của công chức, viên chức xã, người dân ở các thôn khác chưa bao giờ tham gia các hoạt động ở đây. Đến năm 2015, tỉnh Lào Cai đã xây dựng được 68 nhà văn hóa xã, phường, thị trấn và 1.332 nhà văn hóa thôn bản, buôn làng, tổ dân phố, nhưng nhiều nhà văn hóa xã hoạt động không hiệu quả. Đặc biệt, chưa có xã vùng cao (xã đặc biệt khó khăn - xã vùng III) xây dựng được nhà văn hóa xã. Các xã vùng thấp xây dựng được nhà văn hóa xã nhưng chỉ có xã ở trung tâm cụm dân cư, thị tứ mới hoạt động thường xuyên, còn các xã nông thôn ít hoạt động.

Như vậy, nhà văn hóa xã ở miền núi hoạt động không hiệu quả nên trong chương trình nông thôn mới chỉ nên lựa chọn một số xã phù hợp để xây dựng nhà văn hóa xã. Đó là các xã mang tính chất trung tâm cụm, địa bàn xã là địa bàn thị tứ có nhiều cư dân phi nông nghiệp. Còn hầu hết các xã nông nghiệp không nên xây dựng nhà văn hóa xã; cần tập trung lựa chọn xây dựng nhà văn hóa thôn nhưng quy mô nhỏ, khu vui chơi gắn với trường học.

Bổ sung một số yếu tố đặc thù vùng cao vào hệ thống tiêu chí nông thôn mới

Vùng cao là vùng đa dạng văn hóa tộc người, đa dạng sinh học. Trải qua hàng nghìn năm ứng xử với môi trường tự nhiên, người vùng cao đã biết chắt lọc, gìn giữ, sáng tạo ra những loại cây, con đặc sản, những ngành nghề thủ công tinh xảo hoặc tri thức dân gian về phòng chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ rừng... Nhưng rất tiếc, toàn bộ các tri thức dân gian này lại ít được bảo tồn, phát huy. Ở Nhật Bản, có chương trình mỗi một làng đều có nghề thủ công. Ở Thái Lan, phát động phong trào mỗi một cộng đồng thôn bản có một sản phẩm hàng hóa đặc sắc. Nhưng ở nước ta, chỉ một vài địa phương biết phát huy lợi thế này, còn hầu hết các địa phương ở vùng cao ít coi trọng phát huy tri thức dân gian, tri thức bản địa. Vì vậy, trong chương trình sửa đổi bộ tiêu chí nông thôn mới của Chính phủ, cần phải nghiên cứu đưa các tri thức dân gian, tri thức bản địa trở thành một phần của các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Vấn đề quản lý xã hội là vấn đề quan trọng và cấp bách ở khu vực nông thôn nhưng chế tài quản lý hiệu quả trong xã hội truyền thống là hương ước của các thôn bản lại chưa được chú trọng hoặc biên soạn thực hiện mang tính chất hình thức. Trong xã hội truyền thống, các hương ước đóng vai trò như một nguyên tắc định hướng chung của cả cộng đồng. Đây cũng là văn bản thể hiện chuẩn mực, chế tài thực hiện mà cộng đồng thôn bản, buôn làng phải tuân theo. Hương ước thường ngắn gọn, đề cập đến những vấn đề thiết yếu của thôn bản, buôn làng, như giải quyết các tranh chấp lợi ích của các hộ gia đình trong thôn, vấn đề bảo vệ an ninh trật tự, bảo vệ rừng... Các nội dung này đều được các chủ hộ gia đình chủ động đưa ra bàn bạc. Sau khi thảo luận dưới sự điều hành của trưởng thôn, sự góp ý của hội đồng già làng, bản hương ước được thông qua dưới hình thức truyền miệng là chủ yếu (một số dân tộc có chữ viết có ghi chép thành từng điều khoản ngắn gọn). Hương ước được thông qua trong lễ cúng các vị thần chung của làng, có các vị thần làng về chứng giám. Do đó, hương ước cũng mang tính thiêng. Nhờ có tính thiêng, trong một không gian bối cảnh thiêng (người trưởng làng đọc hương ước và toàn dân làng xin thề thực hiện) nên hương ước càng được tôn vinh trở thành một cương lĩnh, một lời thề thiêng của cả thôn bản, buôn làng. Hương ước là tiếng nói chung của cả thôn bản, buôn làng được thiêng hóa nên mọi thành viên đều nghiêm ngặt tuân theo hương ước.

Hiện nay, vấn đề xây dựng hương ước theo tiêu chuẩn danh hiệu làng văn hóa có biến đổi và nảy sinh nhiều điều bất cập. Trước hết, bản hương ước đều do cán bộ ngành Tư pháp ở xã soạn thảo theo các nội dung chung chung, vận dụng vào thôn bản, buôn làng nào cũng được với nội dung gồm rất nhiều điều. Khảo sát ở huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu và huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai, các bản hương ước có từ 28-35 điều khác nhau. Người soạn hương ước chọn lựa tất cả những yêu cầu của chính quyền đối với người dân để đưa vào hương ước (từ việc thực hiện chính sách, đóng nộp lệ phí đến việc phổ cập giáo dục tiểu học...). Hầu hết các bản hương ước đều nhắc lại các văn bản luật một cách không cần thiết. Bản hương ước thông qua hội nghị dân thôn bản, buôn làng một cách hình thức. Sau khi dân thôn bản, buôn làng đồng ý cho đúng thủ tục, bản hương ước được Ban Tư pháp xã trình lên Ủy ban nhân dân huyện có quyết định phê chuẩn. Hương ước trở thành hình thức, na ná giống nhau, không đề cập những vấn đề cơ bản của thôn bản, buôn làng dẫn đến tình trạng cộng đồng coi thường hương ước. Thậm chí, khảo sát ở xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai và xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình; xã Tả Ngảo và xã Tả Phìn của huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu thì hầu hết các gia đình không nhớ hương ước đề cập đến vấn đề gì. Các tiêu chí xây dựng danh hiệu làng văn hóa được vận dụng vào nội dung hương ước cũng bị xem nhẹ. Như vậy, chuẩn mực nếp sống văn hóa của thôn bản, buôn làng không được cộng đồng thực hiện nghiêm túc mà chủ yếu là thực hiện lấy lệ.

Vấn đề thực hiện tiêu chí “làng văn hóa” trong công cuộc xây dựng nông thôn mới ở miền núi do cách làm chưa khoa học nên trở thành hình thức. Trong xã hội cổ truyền, dư luận thôn bản, buôn làng đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện nếp sống của thôn bản, buôn làng, là tiếng nói chính thức của cộng đồng nhằm bảo vệ tập quán và hương ước. Nhất là các thôn bản, buôn làng miền núi có trình độ dân trí thấp, môi trường giao tiếp bị khuôn chặt trong các mối quan hệ giữa người trong thôn bản, buôn làng với nhau thì dư luận của thôn bản, buôn làng càng đóng vai trò quan trọng. Đó trở thành lực lượng hướng dẫn và cưỡng chế các thành viên ứng xử theo đúng chuẩn mực của hương ước; góp phần cổ vũ, khích lệ các thành viên chấp hành các hương ước, đồng thời có tác dụng răn đe, ngăn ngừa những người có hành động vi phạm hương ước. Dư luận cũng góp phần quản lý từng con người cụ thể, có tác dụng bùng nổ nhanh, bao vây chặt các đối tượng vi phạm. Sức mạnh của dư luận thôn bản, buôn làng càng trở nên mạnh mẽ khi hương ước trở thành mệnh lệnh thiêng, khi người tạo nguồn dư luận lại là những người có uy tín trong thôn bản, buôn làng. Nhưng rất tiếc trong những năm gần đây, do cách làm thiếu khoa học nên hương ước chưa trở thành một cương lĩnh chung, chưa tạo thành một tuyên ngôn của thôn bản, buôn làng để tạo cơ sở xây dựng dư luận thôn bản, buôn làng. Vì vậy, muốn xây dựng nông thôn mới, hình thành nếp sống mới đòi hỏi phải đổi mới hoàn toàn việc xây dựng hương ước.

Do đó, trong thời gian tới, để làm nên thành công của quá trình xây dựng nông thôn mới, cần chú trọng đặc biệt việc xây dựng các tiêu chí về văn hóa gắn với việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở miền núi. Các cấp, ngành cần tiếp tục nghiên cứu tính đặc thù của miền núi nhằm đổi mới việc đề xuất các tiêu chí xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm miền núi, vùng cao; trong đó, nên sửa đổi các tiêu chí “cứng” (như xây dựng cơ sở vật chất văn hóa, xây dựng nghĩa trang, xây dựng chợ...). Trong các tiêu chí xây dựng nông thôn mới về văn hóa, cần nghiên cứu và lựa chọn việc xây dựng các thiết chế văn hóa, nhà văn hóa xã ở các xã là thị tứ, trung tâm của khu vực, cụm kinh tế - xã hội trong vùng, không xây dựng tràn lan như hiện nay. Đẩy mạnh việc hỗ trợ xây dựng các nhà văn hóa thôn bản, buôn làng.

Vấn đề xây dựng nếp sống văn hóa, xây dựng danh hiệu các làng văn hóa ở nông thôn miền núi là vấn đề cực kỳ quan trọng, quyết định đến sự thành công của công cuộc xây dựng nông thôn mới. Điều này đòi hỏi phải thay đổi cách xây dựng hương ước và cách vận động người dân thực hiện hương ước. Cần nghiên cứu bộ máy vận hành của cơ chế thôn bản, buôn làng miền núi để xây dựng nông thôn mới hiệu quả. Đặc biệt, cần bổ sung các tri thức dân gian, tri thức bản địa ở vùng cao trở thành một phần trong các nội dung của các tiêu chí về kinh tế, quản lý xã hội./.

--------------------------------------

(1): http://www.baonghean.vn/kinh-te/xay-dung-nong-thon-moi/201409/buc-tranh-ve-quan-ly-dau-tu-cac-cho-sieu-thi-trung-tam-thuong-mai-bai-1-mien-nui-nhieu-cho-bo-hoang-2509818/.

TS. Trần Hữu SơnHội Văn nghệ dân gian Việt Nam

Video