Thứ Hai, 27/3/2017
Sự chỉ đạo điều hành quyết liệt, đồng bộ của Chính phủ trong phát triển kinh tế - xã hội
7/2/2007 14:0' Gửi bài này In bài này

Năm 2006, bên cạnh những thuận lợi cơ bản do 20 năm đổi mới tạo ra, nước ta phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, thử thách, nhưng nền kinh tế vẫn tiếp tục được duy trì với tốc độ tăng trưởng khá cao. Kết quả này thể hiện sự cố gắng lớn với tinh thần trách nhiệm cao của Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành thực hiện các nghị quyết của Đảng, của Quốc hội về chỉ tiêu, kế hoạch kinh tế - xã hội. Bước sang năm 2007, năm đầu triển khai các cam kết với WTO, chúng ta có nhiều thuận lợi mới, đồng thời cũng phải đối mặt với những khó khăn không thể xem thường. Điều đó càng đòi hỏi sự nỗ lực vượt bậc của các ngành, các cấp, sự chỉ đạo tập trung, sâu sát, năng động, quyết liệt, đồng bộ trên các mặt công tác của Chính phủ, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong phát triển kinh tế và đời sống xã hội.

Năm 2006 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng và kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, bên cạnh những thuận lợi cơ bản do 20 năm đổi mới tạo ra, nước ta phải đương đầu với rất nhiều khó khăn chồng chất: thiên tai dồn dập, nhiều cơn bão lớn; dịch cúm gia cầm có nguy cơ bùng phát; dịch lở mồm long móng đàn gia súc xảy ra trên diện rộng; bệnh rầy nâu, vàng lùn, lùn xoắn lá phá hoại vựa lúa đồng bằng sông Cửu Long gây thiệt hại nặng nề. Những biến động trên thế giới, nhất là giá cả các loại nhiên liệu, vật tư tác động bất lợi đến tình hình sản xuất và bình ổn mặt bằng giá. Tuy gặp rất nhiều khó khăn, nhưng phần lớn các chỉ tiêu kinh tế - xã hội đều đạt và vượt mức Quốc hội đề ra; nền kinh tế nước ta tiếp tục được duy trì với tốc độ tăng trưởng khá cao, nhiều lĩnh vực xã hội có chuyển biến tích cực.

Đáng chú ý là, nhiều ngành, lĩnh vực tiếp tục phát triển, góp phần vào tăng trưởng chung; giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng trưởng 17%, cao hơn mức kế hoạch; chất lượng và khả năng cạnh tranh của một số sản phẩm công nghiệp được nâng cao; các ngành dịch vụ phát triển khá, nhất là thương mại bán lẻ; hoạt động viễn thông được mở rộng, đáp ứng yêu cầu của sản xuất và đời sống nhân dân. Hoạt động đối ngoại có nhiều thắng lợi rực rỡ. Chúng ta đã tổ chức thành công Hội nghị APEC, và là thành viên chính thức của WTO, xuất khẩu duy trì được mức tăng trưởng cao (39,6 tỉ USD); nhập siêu giảm cả về kim ngạch và tỷ lệ so với năm 2005. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt mức cao nhất từ trước đến nay (10,2 tỉ USD) (với trên 8.000 dự án); cam kết ODA của các nhà tài trợ tăng cao (4,44 tỉ USD). Nền kinh tế duy trì được mức tăng trưởng khá, tăng gần 8,2%. Trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Chính phủ đã triển khai nhiều việc quan trọng, nhất là xây dựng thể chế, xử lý các vụ án lớn, bước đầu tạo được niềm tin trong nhân dân. Kết quả này thể hiện sự cố gắng lớn với tinh thần trách nhiệm cao của Chính phủ trong chỉ đạo, điều hành thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Thứ nhất, triển khai kịp thời kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006 và xây dựng kế hoạch 5 năm 2006 - 2010. Năm 2006, Chính phủ đã xây dựng Chương trình công tác với 474 đề án, tập trung hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết các vấn đề quan trọng về tất cả các lĩnh vực thuộc chức năng và nhiệm vụ chỉ đạo điều hành của Chính phủ. Nghị quyết số 01/2006/NQ-CP của Chính phủ đã đề ra những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước với 6 nhóm giải pháp và 73 vấn đề cụ thể nhằm phát huy những nhân tố tích cực, hạn chế và khắc phục những mặt yếu kém, tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Chính phủ nỗ lực chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội cho cả giai đoạn 5 năm 2006 - 2010; xây dựng và ban hành 12 chương trình nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng; phê duyệt mới và điều chỉnh các đề án quy hoạch phát triển ngành, địa phương, lĩnh vực, sản phẩm có vị trí quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Thứ hai, tập trung chỉ đạo xây dựng thể chế, hành lang pháp lý đồng bộ cho phát triển kinh tế - xã hội, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Để đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tình trạng nợ đọng các văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh đã có hiệu lực thi hành, Chính phủ đã chỉ đạo cải tiến mạnh mẽ quy trình xây dựng, chỉ rõ trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan chủ trì soạn thảo. Với những nỗ lực to lớn, nhất là trong 6 tháng cuối năm việc ban hành văn bản được đẩy nhanh hơn, số văn bản nợ đọng đã giảm nhiều. Chính phủ xác định việc đổi mới hệ thống pháp luật phù hợp với cam kết gia nhập WTO là một trong những điều kiện quan trọng để Việt Nam gia nhập WTO. Vì vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trực tiếp tập trung chỉ đạo, xử lý ngay những vấn đề, nội dung công việc phải hoàn thành phục vụ cho kết thúc đàm phán, đáp ứng được yêu cầu về sự tương thích với các quy định của WTO. Theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, Việt Nam là một trong những nước có hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh khi gia nhập WTO. Trong 10 tháng đầu năm, Chính phủ đã kiểm tra và phát hiện 286 văn bản có những nội dung trái pháp luật, trong đó có 93 văn bản không phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên. Việc kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các văn bản trái luật ngay từ khi mới ban hành đã góp phần tăng cường kỷ cương, trật tự trong việc xây dựng, ban hành văn bản, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật.

Thứ ba, xây dựng và triển khai thực hiện nhiều giải pháp quan trọng nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, điều hành thị trường, kiểm soát độc quyền, xây dựng cơ chế kiểm soát giá cả một số mặt hàng thiết yếu. Trong lĩnh vực đầu tư, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ, ngành và địa phương thực hiện chặt chẽ việc phân bổ vốn đầu tư theo đúng kế hoạch được giao, tập trung vốn cho các công trình có trong kế hoạch, không dàn trải; thực hiện nhiều biện pháp huy động để đáp ứng nhu cầu vốn cho các công trình quan trọng; Thủ tướng và các phó thủ tướng đã xuống hiện trường, trực tiếp kiểm tra, đôn đốc và đề ra các biện pháp cụ thể nhằm đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình trọng điểm quốc gia, các dự án lớn như thủy điện Sơn La, nhà máy lọc dầu Dung Quất, Dự án Khí - Điện - Đạm Cà Mau, các công trình thủy lợi, phòng chống lụt bão, hệ thống giao thông đồng bằng sông Cửu Long... Để nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng năng lực cạnh tranh trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Chính phủ xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư đổi mới thiết bị, công nghệ và kỹ thuật tiên tiến; tăng cường tập trung, tích tụ vốn tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động. Chính phủ đặc biệt quan tâm thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, xóa đói, giảm nghèo, phát triển các xã đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số. Các lĩnh vực lao động, dạy nghề, giải quyết việc làm, thể dục - thể thao có bước chuyển biến rõ nét. Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân được quan tâm, kịp thời phát hiện, điều trị và ngăn chặn được nhiều bệnh nguy hiểm, không để lây lan thành dịch.

Thứ tư, thực hiện Chương trình tổng thể cải cách bộ máy hành chính nhà nước. Chính phủ chỉ đạo tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2005; tiếp tục triển khai giai đoạn II (2006 - 2010); nhân rộng cơ chế "một cửa"; cải cách tổ chức bộ máy, tài chính công; ban hành chỉ thị về giảm văn bản, giấy tờ hành chính, quy định chế độ hội họp trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm đưa công tác tổ chức hội họp, ban hành văn bản, giấy tờ hành chính nhà nước đi vào trật tự, nền nếp với mục tiêu thiết thực, tiết kiệm và hiệu quả. Chính phủ cũng chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương tập trung rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, thuận tiện để nhân dân và doanh nghiệp dễ hiểu, dễ làm.

Thứ năm, công tác đối ngoại được triển khai đồng bộ và thu nhiều kết quả quan trọng. Uy tín và vị thế quốc tế của nước ta được nâng cao. Về quan hệ song phương, bên cạnh việc củng cố quan hệ truyền thống với các nước láng giềng, các nước khu vực ASEAN, Chính phủ tập trung chỉ đạo đẩy mạnh quan hệ với các nước lớn (Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga) và EU để tranh thủ sự ủng hộ của các nước này đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập, ứng cử làm thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, thúc đẩy các cơ hội đầu tư, thương mại, du lịch... Về quan hệ đa phương, Chính phủ tập trung cao độ cho chỉ đạo đàm phán, giải quyết những vướng mắc trong quá trình tiến tới gia nhập WTO. Ngày 7 tháng 11 năm 2006, nước ta đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới là thành công lớn sau gần 12 năm đàm phán. Chính phủ cũng đã chỉ đạo chuẩn bị chu đáo, tổ chức hiệu quả, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho các hoạt động của năm APEC, đặc biệt là tuần lễ Hội nghị cấp cao APEC 14 tại Hà Nội. Đây là hoạt động đối ngoại lớn nhất từ trước tới nay được tổ chức ở Việt Nam và đã được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá thành công về nhiều mặt.

Thứ sáu, xác định phòng, chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Ngay sau khi Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng, đặc biệt là khi có Nghị quyết Trung ương 3, khóa X của Đảng Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, Chính phủ đã khẩn trương xây dựng Chương trình hành động để thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng; soạn thảo các văn bản hướng dẫn luật, rà soát cơ chế, chính sách, tổ chức kiểm tra, thanh tra các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng như đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý và sử dụng đất đai, quản lý thu chi ngân sách, tài nguyên và tài sản công. Qua vụ việc tiêu cực xảy ra tại PMU 18 và một số vụ việc khác, Chính phủ đã yêu cầu một số bộ, ngành phải rút kinh nghiệm, xử lý nghiêm khắc các sai phạm và tăng cường quản lý vốn, tài sản và cán bộ tại các cơ quan, đơn vị nhà nước; chú trọng hơn nữa công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, chống lãng phí, thất thoát vốn. Đồng thời, chỉ đạo thanh tra những công trình, dự án lớn, quan trọng, qua đó phát hiện, chấn chỉnh những thiếu sót về quản lý và sử dụng ngân sách nhà nước.

Thứ bảy, giải quyết có hiệu quả những vấn đề đột xuất, nhạy cảm trong đời sống, kinh tế, xã hội. Trước những tác động của hội nhập kinh tế quốc tế, sự tăng giá một số hàng hóa, đặc biệt là giá vàng, giá xăng dầu... việc điều chỉnh mức lương tối thiểu từ ngày 1 tháng 10 năm 2006 đã tạo sức ép mạnh đến tăng giá chung, Chính phủ đã chỉ đạo kiên quyết kiểm soát những mặt hàng chiến lược, chỉ đạo các doanh nghiệp nhà nước bằng mọi biện pháp giảm chi phí sản xuất... Do vậy, đã giữ được ổn định thị trường, kiềm chế lạm phát. Tính chung cả năm, chỉ số giá tiêu dùng chỉ tăng 6,6% (kế hoạch đầu năm là 7%). Chính phủ đã kịp thời chỉ đạo xử lý tình trạng đình công ở một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hạn chế tác động xấu đến môi trường đầu tư trong nước; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Luật Lao động trong doanh nghiệp, xử lý và hòa giải kịp thời, không để ảnh hưởng đến sản xuất và trật tự an toàn xã hội. Do có những biện pháp xử lý đúng đắn, đồng bộ cả quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động, nên đã cơ bản ổn định được vấn đề đình công. Công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả các cơn bão số 1, số 6, số 9 được tiến hành khẩn trương, giúp đỡ nhân dân vùng bị thiên tai khôi phục sản xuất, ổn định đời sống, có giải pháp lâu dài để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, quyết tâm "không để cho dân đói, dân rét". Lần đầu tiên Thủ tướng Chính phủ thành lập các sở chỉ huy tiền phương do các phó thủ tướng trực tiếp điều hành để chỉ đạo phòng, chống bão lụt ngay tại các trung tâm bão!

Có thể nói, năm 2006, Chính phủ đã có bước chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ trong công tác chỉ đạo, điều hành các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; có sự thành công đáng phấn khởi trong điều hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước tiếp cận giá thế giới nhưng không để xảy ra biến động lớn, tạo được tâm lý ổn định trong đời sống xã hội. Thành tựu đạt được là rất cơ bản, tuy nhiên, không thể không nói đến những mặt còn hạn chế trong công tác chỉ đạo, điều hành. Có thể kể đến việc chấp hành quy chế làm việc trong xây dựng và thực hiện Chương trình công tác của Chính phủ còn thiếu chặt chẽ. Một số bộ, cơ quan chưa bảo đảm thời gian trình đề án theo đăng ký, thiếu chủ động, khẩn trương triển khai thực hiện ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ hoàn thành chương trình. Công tác phối hợp xử lý công việc có tính liên ngành chưa được thực hiện tốt, chất lượng ý kiến phối hợp chưa cao, thời gian phối hợp kéo dài. Việc thực hiện chương trình xây dựng các dự luật, pháp lệnh luôn ở trong tình trạng bị sức ép về thời gian. Cải cách hành chính được xác định là nhiệm vụ quan trọng, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Số đầu mối tổ chức và biên chế chưa giảm; nhiều thủ tục hành chính còn phiền hà, chậm được sửa đổi; chưa ngăn chặn được tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí đang gây nhiều bức xức trong xã hội.

Năm 2007, năm đầu triển khai các cam kết với WTO, chúng ta có nhiều thuận lợi mới, đồng thời cũng phải đối mặt với những khó khăn không thể xem thường trong hội nhập và phát triển, cũng như tác động khó lường của thiên tai, dịch bệnh. Để từng bước thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội đề ra trong Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng, trước mắt là hoàn thành nhiệm vụ kế hoạch năm 2007, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã bàn thảo và ban hành Nghị quyết 03 ngày 19-1-2007, đề ra các giải pháp quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và tập trung chỉ đạo, điều hành trên những nội dung cơ bản, cấp thiết sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế - xã hội có chất lượng và bền vững. Hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, bảo đảm tính thống nhất, minh bạch và sự ổn định của chính sách, phù hợp với lợi ích quốc gia và các thông lệ quốc tế; thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt với sự giám sát, điều tiết của Nhà nước theo nguyên tắc thị trường; ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát được lạm phát. Bảo đảm an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Tạo điều kiện thuận lợi để thị trường chứng khoán, các quỹ đầu tư, các định chế tài chính phát triển lành mạnh. Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, tháo gỡ vướng mắc, tạo môi trường thuận lợi đẩy mạnh việc hình thành đồng bộ và thúc đẩy hệ thống thị trường đi vào hoạt động, đặc biệt là thị trường bất động sản, thị trường lao động và thị trường khoa học, công nghệ. Phát triển mạnh mẽ các loại hình doanh nghiệp, cổ phần hóa một số doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn và ngân hàng thương mại, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khuyến khích phát triển mạnh các doanh nghiệp cổ phần và các loại hình kinh tế dân doanh, thu hút các tập đoàn kinh tế lớn của nước ngoài đến đầu tư kinh doanh ở nước ta, nhất là các lĩnh vực công nghệ cao.

Hai là, đổi mới cơ chế quản lý và quy trình kiểm soát thu, chi ngân sách theo hướng đơn giản, hiện đại, công khai, minh bạch và phù hợp với thông lệ quốc tế, thực hiện kiểm soát chi theo kết quả đầu ra, từng bước hình thành hệ thống kiểm soát rủi ro quản lý ngân quỹ và quản lý nợ, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát quản lý thuế, chi ngân sách; đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu, phát triển thị trường nội địa. Vừa chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, vừa khẩn trương xây dựng hệ thống hàng rào kỹ thuật phù hợp, triển khai một số công cụ quản lý nhập khẩu mới; chống buôn lậu, gian lận thương mại, làm hàng giả, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Bổ sung các chính sách thích hợp, cải thiện môi trường đầu tư, thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư cả trong và ngoài nước. Đồng thời, hoàn thiện các quy định trong quản lý đầu tư xây dựng theo hướng phân cấp, giao quyền và trách nhiệm đầy đủ cho đầu tư và người quyết định đầu tư; khắc phục nhanh tình trạng dự án đầu tư bị kéo dài và đầu tư dàn trải, lãng phí.

Ba là, có biện pháp cụ thể để khắc phục sụt giảm khách du lịch; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động du lịch; đầu tư tôn tạo các điểm du lịch đặc trưng, những sản phẩm du lịch độc đáo, quảng bá du lịch Việt Nam. Khuyến khích đầu tư tăng năng lực và hiện đại hóa bưu chính - viễn thông, phát triển mạnh kết cấu hạ tầng thông tin hiện đại. Nâng cao năng lực và chất lượng dịch vụ vận tải trong nước; tăng sức cạnh tranh của vận tải đường biển và hàng không quốc tế. Khuyến khích phát triển các dịch vụ mới, dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh và các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống ở nông thôn. Phát triển các dịch vụ pháp lý, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin, thể thao, dịch vụ việc làm và an sinh xã hội.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng cơ chế, chính sách để phát triển và giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội. Tập trung nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển các lĩnh vực xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường hiệu quả quản lý của Nhà nước, đồng thời phù hợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế. Hướng mạnh vào việc đào tạo phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập. Sắp xếp lại hệ thống dạy nghề, nâng cao chất lượng và mở rộng quy mô dạy nghề và trung học chuyên nghiệp, chú trọng đào tạo nghề có trình độ cao. Tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ với các doanh nghiệp để đổi mới và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh. Nâng cao điều kiện cơ sở vật chất với chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân. Chuyển mạnh một số cơ sở giáo dục, đào tạo công lập sang dân lập, tư thục. Xây dựng, nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất ngành giáo dục ở các vùng kinh tế - xã hội khó khăn. Phát triển văn hóa đồng bộ với phát triển kinh tế.

Năm là, cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; thực hiện kiên quyết và đồng bộ các giải pháp phòng chống tham nhũng, lãng phí, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tiếp tục triển khai thực hiện giai đoạn II của Chương trình tổng thể cải cách hành chính. Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa X của Đảng trong lĩnh vực này. Kiện toàn và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý hành chính nhà nước từ trung ương tới địa phương, tăng cường phân cấp, đổi mới phương thức chỉ đạo điều hành; đẩy nhanh tiến độ hiện đại hóa nền hành chính, mở rộng áp dụng mô hình quản lý chất lượng trong cơ quan hành chính nhà nước, đưa mô hình Chính phủ điện tử - hành chính điện tử vào thực tế. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Đổi mới chính sách cán bộ và công tác quản lý cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực... Công tác phòng, chống tham nhũng phải được kết hợp chặt chẽ với cải cách hành chính ở từng cơ quan, địa phương, đơn vị và gắn kết thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, quan liêu. Các cơ quan công quyền thực hiện nghiêm chỉnh việc công khai các quy định về thủ tục hành chính; tăng cường thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, phát huy công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; đề cao vai trò và trách nhiệm của các cơ quan báo chí trong việc phát hiện và phê phán các hành vi tham nhũng, lãng phí.

Sáu là, xây dựng văn bản quy định pháp luật, khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn luật, pháp lệnh. Chương trình xây dựng thể chế của năm 2007 rất nặng nề, vừa phải thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, vừa phải tiếp tục và khẩn trương hoàn chỉnh các văn bản dưới luật bảo đảm phù hợp với quy định của WTO. Để hoàn thành khối lượng công việc này Chính phủ cần có quyết tâm cao, đổi mới phương pháp soạn thảo và chỉ đạo kiên quyết để bảo đảm tiến độ hoàn thành đúng chương trình và có chất lượng. Các cơ quan được giao chủ trì đề án cần tập hợp lực lượng, huy động đội ngũ chuyên gia giỏi từ các cơ quan, viện nghiên cứu, hiệp hội tham gian soạn thảo; tổ chức tốt việc biên tập và lấy ý kiến của các tầng lớp nhân dân. Việc soạn thảo văn bản hướng dẫn phải đồng thời với văn bản chính, bảo đảm tính hệ thống của văn bản, khắc phục tình trạng nợ đọng văn bản hướng dẫn luật, pháp lệnh tồn tại từ nhiều năm nay. Để làm tốt công tác này, lãnh đạo các bộ cần chỉ đạo sát sao ngay từ khi lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; có kế hoạch triển khai chặt chẽ và chế tài thưởng, phạt nghiêm. Các cơ quan có chức năng thẩm tra, thẩm định phải cải tiến thủ tục và nâng cao trách nhiệm của các bộ liên quan công tác thẩm tra thẩm định, bảo đảm tính hiệu quả và kịp thời.

Bảy là, thực hiện nghiêm túc Quy chế làm việc của Chính phủ, tăng cường công tác kiểm tra văn bản. Phát huy mạnh mẽ hơn vai trò của tập thể Chính phủ và trách nhiệm của từng thành viên Chính phủ trong việc đổi mới công tác chỉ đạo, điều hành, duy trì lề lối làm việc theo Quy chế làm việc của Chính phủ, nhất là trách nhiệm trong tham gia giải quyết công việc chung. Các bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ dành thời gian trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng chương trình công tác, soạn thảo các đề án trình Chính phủ bảo đảm có chất lượng cao; phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương trong việc tham gia ý kiến xây dựng các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật về các nội dung liên quan. Đối với việc kiểm tra ban hành văn bản, cần phải thường xuyên, có kế hoạch và bảo đảm chặt chẽ, nghiêm minh.

Bước sang năm 2007 với khí thế và sức bật mới, Chính phủ đang thể hiện quyết tâm cao, kiên trì, nhất quán thực hiện đường lối đổi mới, chỉ đạo tập trung, sâu sát, năng động, quyết liệt, đồng bộ trên các mặt công tác, tạo chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa trong phát triển kinh tế và đời sống xã hội, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

* Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm thường trực Văn phòng Chính phủ

Nguyễn Xuân Phúc

Video