Thứ Tư, 19/6/2019
Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp (*)
29/5/2019 16:25' Gửi bài này In bài này
Lễ khai giảng Lớp Trung cấp lý luận Chính trị - Hành chính khóa 65, hệ không tập trung năm học 2018 -2019 - Nguồn: tuyengiao.vn

Với quan niệm nhân cách (đạo đức) và năng lực là hai thuộc tính cơ bản phản ánh chất lượng của đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận; hiệu quả hoạt động là thước đo chất lượng của đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận; từ tiếp cận nghiên cứu hệ thống - cấu trúc, tiếp cận nghiên cứu năng lực, tiếp cận nghiên cứu quyền của người nghiên cứu, tác giả trình bày quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận gắn với yêu cầu của thực tiễn phát triển đất nước, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Nghiên cứu lý luận và những đặc thù trong nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu lý luận là hoạt động nghiên cứu khoa học về các phương diện của con người, các quan hệ xã hội của con người và xã hội, như triết học, kinh tế, chính trị, về văn hóa, con người, về lịch sử và xã hội, về chiến lược và chính sách phát triển, về quốc phòng và an ninh,... Đặc thù của nghiên cứu lý luận là tổng hợp kiến thức, tri thức ở trình độ khái quát cao, bao hàm các nguyên lý, nguyên tắc, quy luật, quan niệm, khái niệm, mối quan hệ phổ biến, mang tính bản chất, những nội dung tổng quát và những tri thức cụ thể về con người và xã hội được khái quát từ thực tiễn, được đúc rút từ những kinh nghiệm, được dự báo có căn cứ khoa học. Thực chất, nghiên cứu lý luận ở nước ta là nghiên cứu và vận dụng sáng tạo những nội dung, nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cụ thể của Việt Nam; tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lý luận - thực tiễn về chủ nghĩa xã hội (CNXH), về con đường đi lên CNXH của Việt Nam. Nghiên cứu lý luận là phục vụ công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, vì lợi ích của Đảng, của nhân dân và của cả dân tộc. Cơ sở nhận diện nghiên cứu lý luận với nghiên cứu khoa học khác ở nước ta: Trước hết, kết quả nghiên cứu lý luận là nền tảng, là căn cứ khoa học và cơ sở thực tiễn cho việc xác định con đường phát triển của đất nước, của dân tộc; Thứ hai, kết quả nghiên cứu lý luận là cơ sở cho việc hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; Thứ ba, kết quả nghiên cứu lý luận là điều kiện cho sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội; Thứ tư, kết quả nghiên cứu lý luận là căn cứ khoa học nhằm lý giải những vấn đề phát sinh từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Tổng quan về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ và đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận ở nước ta hiện nay

Quan niệm về nguồn nhân lực khoa học và công nghệ (KHCN) và đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận (NCLL)

Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), quan niệm nguồn nhân lực KHCN của một quốc gia/vùng lãnh thổ bao gồm toàn bộ những người có trình độ từ cao đẳng/đại học trở lên (tương ứng với bậc đào tạo thứ III theo phân loại quốc tế về giáo dục và đào tạo) trong một lĩnh vực KHCN và những người chưa qua đào tạo chính quy như trên, nhưng làm một nghề thuộc chuyên ngành KHCN đòi hỏi trình độ tương đương cao đẳng, đại học trở lên(1).

Ở Việt Nam, trong các báo cáo kết quả điều tra nghiên cứu và phát triển những năm qua (được công bố trên sách Khoa học và công nghệ Việt Nam), cách hiểu thống nhất về một số thuật ngữ có liên quan đến nguồn nhân lực KHCN nói chung, như: 1- “Nguồn nhân lực KHCN” chỉ bao gồm toàn bộ những người tốt nghiệp cao đẳng, đại học trở lên; 2- Nguồn nhân lực KHCN là những người trực tiếp tham gia hoạt động KHCN (hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KHCN,...) trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của mình, bao gồm các nhà khoa học và kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phụ trợ(2); 3- Nhân lực nghiên cứu và phát triển (NCPT) gồm những người tham gia trực tiếp vào hoạt động NCPT. Nhân lực NCPT bao gồm các cán bộ nghiên cứu, cán bộ kỹ thuật, nhân viên hỗ trợ và nhân lực khác tại các viện, các trung tâm nghiên cứu và phát triển, các trường đại học, học viện, trường cao đẳng, các cơ quan hành chính, sự nghiệp, các doanh nghiệp có hoạt động nghiên cứu.

 

Thống nhất với số liệu về nhân lực NCPT của quốc gia trong các báo cáo kết quả điều tra NCPT, thuật ngữ đội ngũ cán bộ NCLL trong bài viết này được hiểu là một bộ phận trong hệ thống nhân lực NCPT và không bao gồm cán bộ kỹ thuật, nhân viên hỗ trợ và nhân lực khác. Đội ngũ cán bộ NCLL bao gồm các cán bộ nghiên cứu:

- Là tất cả nhân viên trực tiếp NCLL trong các viện, các trung tâm NCPT (trừ cán bộ kỹ thuật, nhân viên hỗ trợ và nhân lực khác không tham gia hoạt động NCPT của tổ chức);

- Là cán bộ giảng dạy, cán bộ có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên làm trong các đơn vị NCLL (nhưng không bao gồm những người chỉ làm công tác hỗ trợ giảng dạy, như giáo vụ...) tại các trường đại học, học viện, trường cao đẳng;

- Là những người trực tiếp tham gia thực hiện đề tài, dự án NCLL trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp (có triển khai đề tài, dự án nghiên cứu khoa học);

Về số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực KHCN (trong đó có đội ngũ cán bộ NCLL):

Theo kết quả tổng hợp Điều tra nghiên cứu và phát triển năm 2016 và Điều tra doanh nghiệp năm 2016 cho thấy, năm 2015 cả nước có 131.045 người tham gia các hoạt động NCPT(3), trong đó có 43.683 người (chiếm tỷ lệ 33,66%) trong lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học nhân văn.

 

Thực trạng đội ngũ cán bộ nghiên cứu lý luận hiện nay

Về điểm mạnh

Thứ nhất, sự gia tăng về số lượng trong các năm qua phản ánh sự lớn mạnh của đội ngũ cán bộ KHCN nói chung, đội ngũ cán bộ NCLL nói riêng. Thực tế đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn có sự gia tăng hằng năm, cụ thể là: nếu năm 2011, cả nước có 30.643 người thì đến năm 2015, con số đó là 43.683 người.

Thứ hai, năng lực và hiệu quả hoạt động đã phản ánh những bước tiến dài về chất lượng của đội ngũ cán bộ KHCN, trong đó có đội ngũ cán bộ NCLL. Đội ngũ cán bộ này đã và đang thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, cung cấp những luận cứ khoa học phục vụ sự lãnh đạo của Đảng; tư vấn, cung cấp luận cứ khoa học để các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước hoạch định chủ trương, đường lối phát triển kinh tế - xã hội; quốc phòng - an ninh; xây dựng đất nước bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Có thể tóm lược những đóng góp của đội ngũ cán bộ NCLL ở nước ta trong 20 năm (1998 - 2018) như sau:

Đội ngũ cán bộ NCLL cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình xây dựng, soạn thảo các văn kiện, nghị quyết của Đảng, bổ sung, hoàn thiện các chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cùng với tiến trình đổi mới, lĩnh vực nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn đã góp phần bổ sung, lý giải và làm rõ thêm những quan điểm của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn của việc kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng; từng bước làm rõ hơn các vấn đề về mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội, văn hóa và phát triển,...

Đội ngũ cán bộ NCLL cung cấp luận cứ cho việc hoạch định, hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, có đóng góp trong quá trình xây dựng, ban hành các bộ luật mới, sửa và hoàn chỉnh nhiều bộ luật trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, điều chỉnh chính sách ở các ngành, địa phương phù hợp với các hiệp định và các công ước, điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia.

Đội ngũ cán bộ NCLL đã góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia và tính toàn vẹn lãnh thổ. Một trong số những đóng góp của đội ngũ cán bộ NCLL qua các giai đoạn (chủ yếu từ năm 2001 đến nay) là tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, phân tích dự báo các xu hướng phát triển chủ yếu của cục diện chính trị thế giới và trật tự kinh tế toàn cầu, làm rõ hơn vấn đề quốc gia, dân tộc trong thế giới đương đại, các xu hướng quốc tế, sự điều chỉnh chiến lược của các nước lớn; các nước có quan hệ truyền thống và các đối tác chiến lược của Việt Nam; bổ sung nhận thức, dự báo tình hình diễn biến, đề xuất các phương án ứng xử của Việt Nam trong quan hệ với các nước lớn, với các nước láng giềng, các vấn đề mới về cộng đồng ASEAN, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Tiểu vùng sông Mê Kông, đặc biệt là vấn đề Biển Đông (là vấn đề mới, hệ trọng và nhạy cảm).

Về hạn chế

Một là, về những hạn chế chung của đội ngũ nhân lực KHCN được đề cập trong các công trình khoa học đã công bố, được nêu trong các báo cáo của các cơ quan của Đảng và Nhà nước:

- Đội ngũ nhân lực KHCN tuy gia tăng về số lượng, nhưng chất lượng và năng lực còn hạn chế; phân bố và cơ cấu trình độ chưa hợp lý theo vùng, miền và lĩnh vực hoạt động; phần lớn nguồn nhân lực KHCN hiện nay đang tập trung làm việc ở khu vực nhà nước, trong khu vực tư nhân và doanh nghiệp còn rất thấp. Tình trạng hẫng hụt về thế hệ trong các viện nghiên cứu, trường đại học tiếp tục gia tăng, số cán bộ KHCN đủ năng lực chủ trì những nhiệm vụ KHCN lớn ngày càng giảm sút;... thiếu các nhà khoa học, tổng công trình sư đủ năng lực chủ trì các nhiệm vụ nghiên cứu quốc gia và quốc tế (4).

- Tinh thần hợp tác nghiên cứu và kỹ năng làm việc nhóm của cán bộ KHCN còn chưa cao, khó hình thành được các nhóm nghiên cứu mạnh liên ngành. Thiếu sự hợp tác giữa các nhà khoa học đứng đầu các nhóm nghiên cứu(5). Một bộ phận trí thức còn hạn chế về năng lực nghiên cứu, sự say mê và tinh thần trách nhiệm. Có tình trạng cán bộ KHCN không cập nhật được các thành tựu mới của KHCN thế giới và trở thành lạc hậu về kiến thức; một số khác đang nghiên cứu những vấn đề thời sự của khoa học nhưng thiếu tâm huyết xây dựng nền khoa học Việt Nam tiến kịp các nước tiên tiến trong khu vực, ít quan tâm đến hiệu quả thực sự của KHCN.

Hai là, những biểu hiện về hạn chế trong hoạt động nghiên cứu của đội ngũ cán bộ NCLL:

- Thiếu vắng các nhóm nghiên cứu mạnh, theo lĩnh vực chuyên sâu. Sản phẩm NCLL tuy nhiều, nhưng ít công trình có giá trị cao về lý luận và thực tiễn, chưa đưa ra được những luận cứ kịp thời, thỏa đáng và thuyết phục cho nhiều vấn đề phát triển đất nước trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Ngoài kết quả trong lĩnh vực văn học và ngôn ngữ, số công trình NCLL ở các lĩnh vực khác được xét tặng giải thưởng lớn còn hạn chế. Các công trình NCLL lớn, có giá trị cao được công bố trong quốc tế còn ít.

- Thiếu gắn bó mật thiết giữa NCLL và tổng kết thực tiễn, giữa công tác NCLL và công tác giảng dạy, đào tạo lý luận. Thực tiễn chỉ ra rằng, rất ít cán bộ khoa học tại các tổ chức NCPT, các trường đại học,... khi nhận các nghiệm vụ nghiên cứu khoa học lớn (cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp bộ) hội đủ ba yêu cầu: Thứ nhất, am hiểu lý thuyết cơ bản, nắm rõ các kết quả nghiên cứu liên quan tới chủ đề nghiên cứu đặt ra; thứ hai, am hiểu cơ chế, chính sách hiện hành của Đảng và Nhà nước về chủ đề nghiên cứu đặt ra; thứ ba, có hoạt động thực tế tại các địa bàn nghiên cứu (tối thiểu từ một đến ba năm).

- Vẫn còn một số nghiên cứu còn mang tính giải thích, minh họa, ít phát hiện, dự báo những vấn đề mới và kiến nghị các giải pháp có tính khả thi. Công tác đấu tranh tư tưởng, lý luận còn chưa theo kịp yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Đặc biệt trong điều kiện bùng nổ thông tin và phát triển mạng thông tin toàn cầu, công tác NCLL còn lạc hậu, tính dự báo thấp, kết quả NCLL chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn. Thực tế cho thấy, các nghiên cứu phản bác các quan điểm sai trái, phản biện các chính sách rào cản, các trở lực đối với sự phát triển của đất nước tại các bộ, ngành ở Trung ương còn ít; Các nghiên cứu phục vụ xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương không nhiều; tỷ lệ số nhiệm vụ NCLL thực hiện ở các địa phương mất cân đối so với các nghiên cứu trong các lĩnh vực KHCN khác.

- Có xu hướng gia tăng sự lệch chuẩn về phương diện đạo đức trong nghiên cứu khoa học (NCKH) do chưa được kiểm soát (Việt Nam chưa có văn bản mang tính pháp quy công bố về đạo đức trong NCKH và quy phạm đạo đức khoa học của người làm công tác khoa học), như hiện tượng cố ý tường trình sai sự thật, giả tạo số liệu hoặc kết quả nghiên cứu; cố ý sao chép tác phẩm, làm sai lệch kết quả nghiên cứu của người khác; không trung thực, báo cáo sai kết quả nghiên cứu; tham gia hoặc cùng với người khác che giấu sự yếu kém trong học thuật của bản thân và của người khác; tham gia công việc thẩm duyệt, đánh giá khoa học không liên quan đến chuyên môn của bản thân; chất lượng, giá trị và hàm lượng khoa học trong các công trình nghiên cứu được công bố (bài báo khoa học, sách khoa học xuất bản, luận văn, luận án) có xu hướng giảm.

Một số giải pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ KHCN nói chung, cán bộ NCLL nói riêng

Giải pháp thể chế hóa đường lối của Đảng về xây dựng đội ngũ cán bộ KHCN, trong đó có đội ngũ cán bộ NCLL gắn với yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước, trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0. Cụ thể liên quan với các nội dung sau:

- Xác định phương châm xây dựng đội ngũ cán bộ NCKH là trẻ hóa và thực tiễn hóa để Việt Nam có được một đội ngũ cán bộ NCKH trẻ tuổi, có sức sáng tạo cao, không xa rời thực tiễn phát triển của đất nước, lấy hiệu quả ứng dụng KHCN vào phát triển kinh tế - xã hội làm tiêu chuẩn, thước đo chất lượng phát triển của đội ngũ cán bộ khoa học.

- Tiếp tục cụ thể hóa quan điểm được nêu ra tại Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 18-6-1997, của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đó là gắn việc xây dựng đội ngũ cán bộ NCKH với xây dựng tổ chức và đổi mới cơ chế, chính sách; thông qua hoạt động thực tiễn để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ NCKH. Đồng thời chể chế hóa quan điểm xây dựng đội ngũ cán bộ NCKH là: Hướng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ phát triển của đất nước; Hướng ra thế giới để hòa nhập với sự vận động và phát triển của KHCN chung của thế giới; Hướng tới tương lai để phát triển nền KHCN Việt Nam đạt thứ hạng cao trong khu vực và đạt thứ hạng trung bình trên thế giới trong tương lai gần, dự tính khoảng năm 2030.

- Xác định nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ NCKH xem đào tạo và bồi dưỡng là phương thức nâng cao năng lực cán bộ NCKH; giao nhiệm vụ và mở rộng cơ hội lựa chọn việc thực hiện nhiệm vụ để cán bộ NCKH được rèn luyện, thử thách trong hoạt động thực tiễn là phương thức nâng cao năng lực cán bộ NCKH.

Giải pháp hoàn thiện chính sách KHCN từ tiếp cận nghiên cứu hệ thống - cấu trúc:

Từ lý thuyết hệ thống - cấu trúc, nhận thức về công tác nghiên cứu, xây dựng và ban hành chính sách trong hoạt động KHCN không thể tiếp cận biệt lập trên từng lĩnh vực cụ thể (con người, tổ chức - bộ máy, nhiệm vụ NCKH, tài chính, thông tin khoa học,...). Tức là, mỗi chính sách ban hành, ngoài những tác động trực tiếp đến các thành tố bên trong, còn có tác động gián tiếp đến các thành tố bên ngoài của hệ thống cấu trúc. Điều đó chỉ ra rằng, hiệu quả, hiệu lực của hệ thống chính sách KHCN của một quốc gia hoàn toàn phụ thuộc vào tính đồng bộ, tính khả thi của các chính sách trong hệ thống. Ngược lại, nếu các chính sách tác động gây xung đột, kìm hãm, cản trở nhau, khi đó các mục tiêu, chủ trương của chủ thể ban hành chính sách sẽ không đạt được kết quả như mong muốn.

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ làm công tác NCLL, cần có hệ thống chính sách KHCN đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả và khả thi. Việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành chính sách KHCN đòi hỏi thực hiện đánh giá tác động của chính sách, đây là một khâu trong chu trình hoạch định chính sách, là một yêu cầu không thể xem nhẹ và bỏ qua.

Giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ NCKH từ tiếp cận nghiên cứu năng lực

Năng lực là một trong hai thuộc tính cơ bản phản ánh chất lượng của đội ngũ cán bộ NCLL. Suy cho cùng, sự phát triển của đội ngũ cán bộ NCLL (con người) là sự phát triển năng lực. Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của đội ngũ cán bộ làm công tác NCLL gắn với việc hoàn thiện mô hình quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ này theo hướng:

Một là, phát triển năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác NCLL thông qua hình thức đào tạo, bồi dưỡng. Việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ là công việc thường xuyên, liên tục; bảo đảm hài hòa về cơ cấu trình độ chuyên môn, cơ cấu tuổi giữa các thế hệ cán bộ nghiên cứu, cơ cấu giới; đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác NCLL, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trẻ. Ngoài đào tạo cán bộ nghiên cứu trực tiếp thông qua hình thức với các chương trình, khóa học ở trong nước và ở nước ngoài, cần đặc biệt coi trọng đào tạo cán bộ nghiên cứu gián tiếp thông qua hình thức hướng dẫn của các thế hệ cán bộ nghiên cứu với nhau trong từng tổ chức NCKH và giữa các tổ chức NCKH.

Hai là, phát triển năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác NCLL thông qua hoạt động thực tiễn lao động khoa học của mỗi cá nhân. Nghị quyết số 03-NQ/TW nêu yêu cầu: “Thông qua hoạt động thực tiễn để tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng cán bộ nghiên cứu khoa học”. Do vậy, trong mô hình quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ NCLL cần phải có các hình thức đa dạng để rèn luyện, thử thách, tạo điều kiện cho cán bộ NCLL phát triển năng lực từ chính trong hoạt động thực tiễn. Sự mở rộng cơ hội lựa chọn cho cán bộ nghiên cứu như vậy cũng chính là tạo động lực để cán bộ nghiên cứu chủ động phát triển năng lực của bản thân.

Một số kết quả NCKH gần đây chỉ ra rằng, mặc dù quá trình tiếp thu, chuyển giao tri thức giữa các thế hệ được mở rộng nhờ có sự trợ giúp tích cực của công nghệ và thiết bị kỹ thuật hiện đại, song lượng tri thức mà con người tiếp nhận được từ hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và giáo dục chỉ chiếm một phần trong tổng số tri thức của con người có được, phần tri thức còn lại đến từ kết quả rèn luyện của mỗi cá nhân thông qua hoạt động thực tiễn. Khi tham gia quá trình lao động sản xuất, hoạt động của con người gắn liền với thực tiễn đời sống phát triển kinh tế - xã hội. Khi đó, thực tiễn chính là xuất phát điểm của quá trình nhận thức. Ở giai đoạn này, thực tiễn đặt ra nhu cầu nhận thức mới, nhu cầu bổ sung tri thức, nâng cao năng lực giải quyết vấn đề của thực tiễn đặt ra.

Như vậy, mô hình quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ NCKH cần phải coi việc thử thách, rèn luyện cán bộ NCLL là một nhiệm vụ thường xuyên, liên tục để nâng cao năng lực thực hiện, giải quyết các vấn đề của thực tiễn hoạt động NCKH đặt ra. Xây dựng cơ chế, chính sách thử thách, rèn luyện người làm công tác NCLL theo hướng giao nhiệm vụ gắn với việc tạo điều kiện thực hiện là yêu cầu đặt ra cho công tác quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ NCKH nói chung, đội ngũ cán bộ NCLL nói riêng. Hằng năm, cơ quan quản lý và sử dụng cán bộ NCLL cần phải tổ chức các hoạt động kiểm nghiệm, đánh giá chất lượng, kết quả việc thực hiện các nhiệm vụ NCKH đã được giao cho cán bộ NCLL thực hiện.

Giải pháp đổi mới cơ chế quản lý hoạt động NCKH từ nghiên cứu tiếp cận quyền của người nghiên cứu.

Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học là hoạt động đòi hỏi đầu tư kinh phí nghiên cứu lớn; độ rủi ro, không thành công trong các nghiên cứu cao; kết quả nghiên cứu mang tính cộng đồng (không trở thành sản phẩm riêng của người nghiên cứu). Nghiên cứu khoa học đòi hỏi cán bộ nghiên cứu có năng lực khoa học, có khả năng tổng hợp, phân tích và có tư duy sáng tạo. Nghiên cứu khoa học là một dạng thức lao động đặc thù. Nó chỉ có thể phát triển trong những điều kiện xã hội đặc thù, trong đó môi trường lao động và quản lý là hết sức quan trọng. Bởi vậy, cần cơ cơ chế quản lý khoa học phù hợp, các quyền của người làm công tác NCKH được bảo đảm, như quyền tự do sáng tạo khoa học; quyền đề xuất ý tưởng nghiên cứu để được nhà nước và cá tổ chức xã hội tài trợ cho việc thực hiện nghiên cứu; quyền được thừa nhận những đóng góp khoa học sau khi công bố kết quả nghiên cứu; quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ,... Trên tinh thần đó:

Trước hết, về quan điểm đổi mới cơ chế quản lý hoạt động NCKH theo hướng: 1- Không hạn chế cá nhân có năng lực tham gia NCKH nói chung, NCLL nói riêng; 2- Tạo điều kiện thuận lợi để người làm NCLL được sáng tạo khoa học theo năng lực và trình độ của mình; 3- Tạo lập môi trường lành mạnh cho hoạt động NCKH phát triển. Nhà nước cần sớm ban hành văn bản mang tính pháp quy, công bố về đạo đức trong NCKH và quy phạm đạo đức khoa học của người làm công tác khoa học.

Thứ hai, giải pháp thực hiện đổi mới cơ chế quản lý khoa học theo hướng:

- Cơ quan quản lý khoa học thực hiện chức năng định hướng nghiên cứu và công bố định hướng nghiên cứu dài hạn, trung hạn và hằng năm. Để khắc phục tình trạng lấn sân, làm thay việc của người làm NCKH, cơ quan quản lý khoa học công bố số lượng nhiệm vụ tuyển chọn, kinh phí dự kiến cấp cho từng nhiệm vụ, yêu cầu về sản phẩm cần đạt của từng chương trình khoa học, dự án nghiên cứu cụ thể.

- Tổ chức, cá nhân làm NCLL được chủ động và tự xác định nhiệm vụ; xây dựng thuyết minh đề cương nghiên cứu; theo năng lực nghiên cứu của mình.

- Việc quyết định giao thực hiện nhiệm vụ NCLL trên cơ sở bảo đảm các điều kiện sau: 1- Ý nghĩa thực tiễn và triển vọng ứng dụng, sử dụng kết quả nghiên cứu của vấn đề nghiên cứu dự kiến đạt được; 2- Sự phù hợp của thuyết minh đề cương nghiên cứu (do tổ chức và cá nhân đăng ký thực hiện chuẩn bị) với định hướng nghiên cứu do cơ quan quản lý khoa học công bố.

Cơ quan quản lý khoa học thông qua hội đồng tư vấn để xem xét tính khả thi của vấn đề nghiên cứu, kết quả và sản phẩm khoa học dự kiến đạt được (do tổ chức, cá nhân đề xuất); năng lực của các thành viên dự kiến tham gia thực hiện nhiệm vụ... để lựa chọn và phê duyệt thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu./.

--------------------------------------------

(*) Bài viết là kết quả nghiên cứu Đề tài “Nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là chuyên gia đầu ngành”, mã số: KHBĐ (2018)-27;

Chú thích:

(1) Sách Khoa học và công nghệ Việt Nam năm 2015, tr. 83
(2) Đây cũng là quan niệm của UNESCO
(3) Sách Khoa học và công nghệ Việt Nam năm 2017, tr. 79
(4), (5) Báo cáo Đề án trình Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khóa XI, ngày
18-9-2012, tr. 20, 21

Nguyễn Thành TrungTS. Bộ Khoa học và Công nghệ

Video