Thứ Hai, 20/11/2017
Đường lối phát triển công nghệ cao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
15/8/2017 22:53' Gửi bài này In bài này
Ảnh minh họa

Khoa học - công nghệ không chỉ góp phần nâng cao dân trí, giúp con người nhận thức được các mối liên hệ, bản chất, các quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy, mà còn giúp chuyển hóa những tri thức có được thành các phương tiện, những phương pháp và cách thức tổ chức để cải tạo thế giới, đặc biệt là trong hoạt động sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của con người.

Trải qua các giai đoạn lịch sử, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về khoa học - công nghệ nói chung, công nghệ cao (1) nói riêng dần được sáng tỏ và từng bước hoàn thiện. Đường lối đó thể hiện trong các Văn kiện, Nghị quyết qua các kỳ đại hội Đảng.

Khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu

Tại Đại hội VI của Đảng (năm 1986), Đảng ta đã xác định cách mạng khoa học - kỹ thuật được coi là then chốt trong ba cuộc cách mạng của thời kỳ khôi phục và kiến thiết đất nước sau khi thống nhất. Tại kỳ Đại hội này, mặc dù chưa có từ ngữ nào diễn đạt về “công nghệ cao”, song quan điểm về phát triển khoa học - kỹ thuật đã được Đảng ta chỉ ra khá cụ thể. Trước hết, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương nhận định: “Trong điều kiện thế giới đang tiến nhanh vào giai đoạn mới của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và qua tình hình thực tế của nước ta, càng thấy rõ sự bức bách phải làm cho khoa học, kỹ thuật thực sự trở thành một động lực to lớn đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”(2). Trên cơ sở khẳng định vị trí, vai trò của khoa học - kỹ thuật là một động lực quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Nghị quyết Đại hội đã yêu cầu: cần phải xúc tiến và hoàn thành chiến lược phát triển khoa học - kỹ thuật, lựa chọn và tổ chức áp dụng rộng rãi các thành tựu khoa học - kỹ thuật thích hợp của nhân loại nhằm phục vụ ba chương trình về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu.

Đến Đại hội VII của Đảng (năm 1991), với quan điểm coi khoa học - công nghệ là nền tảng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lần đầu tiên trong Báo cáo chính trị và Nghị quyết của Đảng đã đề cập đến thuật ngữ “công nghệ cao”, Nghị quyết viết: “Nắm bắt công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chế tạo máy để có thể đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định”(3). Có thể nói, đây là bước phát triển lớn trong nhận thức của Đảng ta về đường lối phát triển công nghệ cao so với các Đại hội Đảng trước. Đường lối này không chỉ yêu cầu phải tiếp cận, nắm bắt, ứng dụng các thành tựu của công nghệ cao để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cho công cuộc xây dựng đất nước; mà còn phù hợp với xu thế phát triển thời đại, khi cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã tạo ra những biến đổi sâu sắc và toàn diện trong đời sống kinh tế - xã hội của nhân loại.

Trong nhiệm kỳ này, Hội nghị Trung ương 7 đã ra Nghị quyết số 07-NQ/HNTW, ngày 30-7-1994 về “Phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới”. Theo đó, Nghị quyết đã đề ra đường lối chỉ đạo khá cụ thể trong việc phát triển công nghệ cao như: xây dựng hai trung tâm công nghệ cao ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng một số ngành công nghiệp mới dựa trên công nghệ cao, chuyển một số viện nghiên cứu thành doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm công nghệ cao.

Tại Đại hội VIII của Đảng (năm 1996), trên cơ sở nhìn lại tình hình đất nước sau mười năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng ta nhận định: Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhiệm vụ đề ra cho chặng đường đầu của thời kỳ quá độ là chuẩn bị tiền đề cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã cơ bản hoàn thành, cho phép nước ta chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, Báo cáo Chính trị đã đề ra phương hướng phát triển công nghệ cao như: “Nắm bắt các công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, những công nghệ mới trong chế tạo máy… để có thể đi nhanh vào hiện đại ở những khâu quyết định”(4). Để thực hiện các mục tiêu trên, Đảng ta đã chỉ đạo: Bước đầu phát triển một số lĩnh vực công nghệ cao như điện tử - tin học, công nghệ sinh học, vật liệu mới và tự động hóa. Bên cạnh đó, Đảng ta cũng đề ra nhiệm vụ và giải pháp khá cụ thể: “Đến năm 2000 xây dựng được cơ sở hạ tầng truyền thông tin học quốc gia. Ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả; hình thành mạng thông tin quốc gia, liên kết với một số mạng thông tin quốc tế. Phát triển công nghệ sinh học nhằm tạo ra và nhân nhanh các giống cây trồng, vật nuôi mới; chế biến nông, lâm, thủy sản; sản xuất các loại vắc-xin và kháng huyết thanh, các chế phẩm chẩn đoán bệnh nhanh và chính xác; phát triển các công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường. Phát triển công nghệ vật liệu, nghiên cứu chế tạo một số vật liệu mới có hiệu quả cao, phát triển các loại vật liệu có độ bền lớn và chịu được điều kiện khí hậu nhiệt đới khắc nghiệt. Phát triển kỹ thuật tự động hóa đồng bộ ở một số nhà máy then chốt, ứng dụng công nghệ tự động hóa ở các khâu quyết định đến chất lượng sản phẩm”(5).

Cũng trong nhiệm kỳ này, Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai nêu rõ: “Định hướng chiến lược phát triển khoa học - công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000”. Đối với công nghệ cao, Đảng ta xác định mục tiêu, nhiệm vụ: “Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới,... nhằm nhanh chóng hiện đại hóa công nghệ trong các ngành kinh tế quốc dân và tạo ra các ngành công nghiệp mũi nhọn có giá trị gia tăng cao. Bước đầu xây dựng hai khu công nghệ cao tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh”.

Tại Đại hội IX của Đảng (năm 2001), Đảng ta đánh giá: “Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiều biến đổi. Khoa học - công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”(6). Trong bối cảnh đó, một lần nữa Đảng ta tiếp tục khẳng định: Khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực quan trọng của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trên cơ sở phân tích hình quốc tế và trong nước, Đảng ta cho rằng, để đất nước thực hiện thắng lợi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đòi hỏi phải nắm bắt, khai thác, sử dụng các thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh doanh, bảo vệ môi trường. Muốn đạt được các yêu cầu trên, phải đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao, “cần coi trọng phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa”(7). Bên cạnh đó, Đảng ta còn chỉ đạo phải hoàn thành xây dựng những khu công nghệ cao và hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia để thúc đẩy khoa học - công nghệ nói chung, công nghệ cao nói riêng phát triển.

Động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh, bền vững

Tại Đại hội X của Đảng (năm 2006), Đảng ta nhấn mạnh vai trò của khoa học - công nghệ trong phát triển kinh tế tri thức. Trên cơ sở những thành tựu khoa học - công nghệ của nhân loại và những tiền đề đất nước có được sau 20 năm đổi mới, Đảng ta chỉ đạo: cần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo kiểu rút ngắn. Để thực hiện được cách thức đó, Đảng ta yêu cầu: phải chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá trong chiến lược phát triển. Cụ thể: trong nông nghiệp, phải chuyển dịch mạnh cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng tạo ra giá trị gia tăng ngày càng cao, gắn với công nghiệp chế biến và thị trường; cần phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao; áp dụng công nghệ cao để sản xuất nông sản, thực phẩm sạch theo tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao. Còn trong công nghiệp, để thực hiện mục tiêu đến năm 2010, năng lực khoa học - công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng, Đảng đã chỉ đạo phải: “Phát triển công nghệ cao, nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học và công nghệ vật liệu mới”(8). Ngoài ra, Đảng ta còn nhấn mạnh cần phát triển các dịch vụ y tế công nghệ cao nhằm đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh cho nhân dân.

Đến Đại hội XI của Đảng (năm 2011), Đảng ta đã đề ra đường lối đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, theo đó, khoa học - công nghệ giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và là động lực then chốt của quá trình phát triển nhanh, bền vững. Vì vậy, bên cạnh đưa ra các chỉ tiêu phấn đấu trong nhiệm kỳ như: tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân, GDP bình quân đầu người, cơ cấu GDP trong nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng và dịch vụ; lần đầu tiên trong Nghị quyết đã đề ra chỉ tiêu: “Sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt 35% tổng GDP”(9). Để thực hiện các mục tiêu nêu trên, Đảng ta yêu cầu cần phải đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Theo đó, cần “khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ công nghệ cao và các giải pháp đổi mới công nghệ, chế tạo sản phẩm mới... tham gia ngày càng nhiều và có hiệu quả vào những khâu, công đoạn có hàm lượng khoa học, giá trị gia tăng cao trong mạng sản xuất và phân phối toàn cầu”(10). Cụ thể, trong lĩnh vực công nghiệp, để phát triển theo hướng hiện đại, tạo nền tảng cho một nước công nghiệp, nâng cao khả năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế, đòi hỏi phải phát triển “công nghiệp công nghệ cao sản xuất linh kiện điện tử, máy tính, công nghiệp dầu khí, điện, than, khai khoáng, hóa chất, luyện thép, xi măng, phân đạm..., công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp quốc phòng, an ninh với trình độ công nghệ ngày càng cao, sạch, tiêu tốn ít nguyên liệu, năng lượng, tăng sức cạnh tranh và giá trị gia tăng”(11). Cần đẩy mạnh và khuyến khích xuất khẩu, đặc biệt là những mặt hàng mới, sản phẩm chế biến, chế tạo có hàm lượng khoa học - công nghệ cao, giá trị gia tăng cao; giảm mạnh xuất khẩu nguyên liệu, khoáng sản, sản phẩm thô. Còn trong lĩnh vực nông nghiệp, cần ứng dụng công nghệ cao để phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới; phải hình thành được các khu nông nghiệp công nghệ cao, bằng cách áp dụng công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng các loại rau, màu, cây ăn quả, cây công nghiệp có lợi thế cạnh tranh. Bên cạnh đó, “đẩy mạnh việc đánh bắt hải sản xa bờ với ứng dụng công nghệ cao trong các khâu tìm kiếm ngư trường, đánh bắt và hiện đại hóa các cơ sở chế biến thủy sản”(12). Đối với dịch vụ, Nghị quyết của Đảng yêu cầu cần ứng dụng công nghệ cao trong các lĩnh vực như: tài chính, ngân hàng, thương mại, du lịch nhằm tạo ra giá trị gia tăng cao.

Ngoài ra, lần đầu tiên trong Nghị quyết của Đảng ở Đại hội lần này đã nêu lên một số mặt trái của công nghệ cao như: sử dụng công nghệ cao để phạm tội trên các lĩnh vực như: tài chính - tiền tệ, điện tử - viễn thông, sinh học, môi trường; chiến tranh bằng các vũ khí công nghệ cao. Vì vậy, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ: phải “đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự, an ninh, đánh thắng chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao của các lực lượng thù địch (13).

Cũng trong nhiệm kỳ này, Hội nghị Trung ương 6 đã ra Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 31-10-2012 về “Phát triển khoa học - công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Theo đó, Nghị quyết của Đảng xác định mục tiêu: “Đến năm 2020, thông qua yếu tố năng suất tổng hợp (TFP), hoạt động khoa học - công nghệ đóng góp khoảng 35% tăng trưởng kinh tế. Xây dựng được một số sản phẩm quốc gia mang thương hiệu Việt Nam. Giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 40% tổng giá trị sản xuất công nghiệp; tốc độ đổi mới công nghệ, thiết bị đạt khoảng 20%/năm; giá trị giao dịch của thị trường khoa học - công nghệ tăng trung bình khoảng 15%/năm”(14). Để thực hiện các mục tiêu trên, Đảng ta đã đề ra giải pháp nhằm triển khai các định hướng nhiệm vụ khoa học - công nghệ chủ yếu trong thời gian tới, như: đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý, phương thức đầu tư và cơ chế tài chính để “khuyến khích tư nhân thành lập hoặc liên kết với Nhà nước thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm đối với hoạt động nghiên cứu phát triển công nghệ mới, công nghệ cao”(15). Ưu tiên phát triển một số công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, công nghệ liên ngành. Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ cao trong lĩnh vực y tế; tập trung ưu tiên hình thành một số chuyên khoa khám, chữa bệnh công nghệ, chất lượng cao ở các bệnh viện quốc gia; nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất thuốc từ dược liệu trong nước và thuốc y học cổ truyền. Tập trung nguồn lực xây dựng và đưa vào hoạt động có hiệu quả ba khu công nghệ cao quốc gia. Quy hoạch các khu nông nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung.

Đổi mới mạnh mẽ khoa học - công nghệ

Đến Đại hội XII của Đảng (năm 2016) - Đại hội đánh dấu ba mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, trên cơ sở kế thừa một số nội dung ở các kỳ đại hội trước đó, Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của công nghệ cao đối với việc thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đối với nông nghiệp, “đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, hàng hóa lớn”(16); tăng cường ứng dụng công nghệ cao, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp; để tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo đảm phát triển nông nghiệp bền vững. Hơn nữa, phải “tạo điều kiện hình thành những tổ hợp nông - công nghiệp - dịch vụ công nghệ cao”(17). Về công nghiệp, Nghị quyết đề ra phương hướng phát triển có chọn lọc một số ngành công nghiệp công nghệ cao có lợi thế cạnh tranh. Còn về dịch vụ, “tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như: du lịch, hàng hải, dịch vụ kỹ thuật dầu khí, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin”(18). Ngoài ra, Nghị quyết của Đảng còn nhấn mạnh: cần phải hoàn thiện chính sách, luật pháp để thu hút mạnh đầu tư từ doanh nghiệp nước ngoài, nhất là đầu tư các dự án có công nghệ cao, thân thiện với môi trường, sử dụng nhiều lao động; cần có chính sách hỗ trợ nhập khẩu công nghệ cao; phải ưu tiên hợp tác về khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ cao trong quá trình hội nhập quốc tế.

Thực hiện đường lối của Đảng, trong những năm qua, các chính sách, pháp luật về khoa học - công nghệ nói chung và công nghệ cao nói riêng đã được hình thành, dần hoàn thiện và đổi mới mạnh mẽ. Cùng với đó là các cơ chế quản lý kinh tế, quản lý nhà nước về khoa học - công nghệ cũng được từng bước cải cách cho phù hợp với nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế… Tiêu biểu như: hệ thống pháp luật về khoa học - công nghệ đã được Quốc hội thông qua như: Luật Khoa học và Công nghệ (năm 2000), Luật Sở hữu trí tuệ (năm 2005), Luật Công nghệ cao (năm 2008), Chiến lược phát triển khoa học - công nghệ Việt Nam đến năm 2010, Nghị định số 80/2007/NĐ-CP, ngày 19-5-2007 về hợp tác đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khoa học - công nghệ, “Chương trình quốc gia phát triển công nghệ cao đến năm 2020”, đầu tư cho hoạt động khoa học - công nghệ chiếm 2% tổng chi ngân sách Nhà nước, đầu tư xây dựng ba khu công nghệ cao quốc gia ở Hòa Lạc (Hà Nội), Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng.

Có thể nói, những thay đổi kể trên đã tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi cho khoa học - công nghệ nước ta phát triển, tiềm lực khoa học - công nghệ, trong đó có công nghệ cao ngày càng được nâng lên, có nhiều đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới, Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra rằng: “Khoa học, công nghệ chưa thật sự trở thành động lực để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội”(19). Công tác phát triển công nghệ cao còn một số tồn tại như: “Hiệu quả sử dụng các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia và kết quả hoạt động các khu công nghệ cao còn thấp”(20); các mục tiêu về đổi mới công nghệ và phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao diễn ra còn chậm; đến nay vẫn “chưa phát triển được nhiều sản phẩm có giá trị công nghệ cao, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế”(21).

Như vậy, qua các nhiệm kỳ Đại hội từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, quan điểm của Đảng ta về khoa học - công nghệ nói chung, công nghệ cao nói riêng đã có những bước chuyển biến khá căn bản. Đường lối đó không chỉ phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể, mà còn là những định hướng chiến lược quan trọng để Nhà nước, các bộ, ban, ngành, địa phương thể chế hóa bằng các chính sách, pháp luật, chương trình hành động và triển khai tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong những năm qua, công tác phát triển công nghệ cao ở nước ta vẫn còn một số hạn chế. Chính vì vậy, trước sự phát triển và ảnh hưởng mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp, đặc biệt là cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, cũng như trước yêu cầu phải đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo kiểu “đi tắt, đón đầu”, “rút ngắn”, nhằm thu hẹp khoảng cách so với các nước phát triển trên thế giới, hơn lúc nào hết, các cấp, các ngành, các địa phương cần quán triệt sâu sắc hơn nữa đường lối phát triển công nghệ cao của Đảng; từ đó đề ra các giải pháp khoa học kịp thời, hợp lý nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, thúc đẩy đất nước ta phát triển nhanh và bền vững hơn trong kỷ nguyên mới./.

-----------------------

(1) Luật công nghệ cao Việt Nam 2008 định nghĩa: “Công nghệ cao là công nghệ có hàm lượng cao về nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; được tích hợp từ thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại; tạo ra sản phẩm có chất lượng, tính năng vượt trội, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường; có vai trò quan trọng đối với việc hình thành ngành sản xuất, dịch vụ mới hoặc hiện đại hóa ngành sản xuất, dịch vụ hiện có”.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới và hội nhập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, tr. 58 - 59
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 353
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 353
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 407
(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr.446
(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 530
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 638
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 802
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 803
(11) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 804
(12) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 806
(13) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 827
(14) Ban Tuyên giáo Trung ương, Tài liệu nghiên cứu Nghị quyết Hội nghị lần thứ sau Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, 2012, tr. 216
(15) Ban Tuyên giáo Trung ương, sđd, tr. 216
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc khóa XII, Văn phòng Trung ương Đảng, 2016, tr. 281 
(17) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 293 
(18) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 94
(19) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 249
(20) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 249
(21) Đảng Cộng sản Việt Nam, sđd, tr. 252


Biền Quốc ThắngTrường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

Video