Thứ Sáu, 24/5/2019
Đoàn công tác các tiểu ban phục vụ Đại hội XIII của Đảng làm việc tại một số đơn vị, địa phương
24/4/2019 22:0' Gửi bài này In bài này

Tại Hà Nội, để chuẩn bị xây dựng các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, sáng 24-4, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Thường trực Tiểu ban Văn kiện và một số đồng chí thành viên Tiểu ban, Tổ Biên tập đã có buổi làm việc với Ban cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ.

 

Đồng chí Võ Văn Thưởng phát biểu tại buổi làm việc với Ban Cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ. Ảnh: TTXVN


Tại buổi làm việc, đồng chí Võ Văn Thưởng đã nêu rõ mục đích, yêu cầu cần làm rõ về vai trò, đóng góp và những hạn chế, bất cập của khoa học và công nghệ phục vụ sự phát triển của đất nước sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Thay mặt Ban cán sự đảng, đồng chí Chu Ngọc Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã trình bày, nêu bật kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân trong việc thực hiện các định hướng phát triển khoa học và công nghệ được nêu trong Cương lĩnh 2011 trên các vấn đề về hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách phát triển, tiềm lực khoa học và công nghệ trong phát triển kinh tế, xã hội bền vững, đóng góp đáng kể cho tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, phòng, chống thiên tai, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu; thúc đẩy thị trường khoa học và công nghệ, hệ sinh thái khởi nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, mở rộng hợp tác quốc tế.

Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ đã nêu rõ những kết quả đạt được của khoa học và công nghệ sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, như việc triển khai quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết và chương trình hành động của Chính phủ, xây dựng các văn bản pháp luật, gồm 17 Nghị định, 46 Thông tư liên tịch; đang tập trung xây dựng Chiến lược khoa học và công nghệ và đổi mới sáng tạo Việt Nam - Tầm nhìn đến năm 2035. Nhờ những nỗ lực chung của cả nước, trong đó có đóng góp của ngành Khoa học và Công nghệ, trong 5 năm qua, chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam tăng liên tục, năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng 2 bậc, xếp thứ 45/126 quốc gia. Các ngành Công nghệ thông tin, truyền thông; nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học, chế tạo máy và tự động hóa đã có bước phát triển vượt bậc, các công bố khoa học quốc tế tăng lên đáng kể. Tại cuộc làm việc, những khó khăn, hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ sau 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011 và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng là một trọng tâm được phân tích sâu sắc.

Sau khi nghe báo cáo chung, ý kiến phát biểu của các thành viên trong Đoàn công tác và trao đổi của lãnh đạo Ban cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ, đồng chí Võ Văn Thưởng đánh giá cao những nỗ lực, đóng góp của khoa học và công nghệ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, những thời cơ, thách thức trong bối cảnh mới, đặc biệt là tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặt ra yêu cầu mới đối với sự nghiệp khoa học và công nghệ của cả nước.

Nhiều ý kiến trao đổi của các thành viên trong Đoàn công tác được Ban cán sự đảng Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp thu để hoàn chỉnh các văn bản.

Sáng 24-4, tại Hà Nội, Đoàn Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII do đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương, Thường trực Tiểu ban Văn kiện làm Trưởng đoàn, đã làm việc với Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

 

Đồng chí Trương Thị Mai, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương phát biểu kết luận buổi làm việc. Ảnh: TTXVN


Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bí thư Đảng Đoàn Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam Trần Thanh Mẫn dự buổi làm việc.

Phát huy vai trò cầu nối giữa Đảng với nhân dân

Báo cáo đánh giá kết quả gần 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 2011, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hầu A Lềnh cho biết, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc trong Cương lĩnh tiếp tục được đề cao và thể chế hóa, cụ thể hóa trong hầu hết các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, thể hiện ở các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Từ năm 2011 đến nay, MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội đã từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, thể hiện rõ vai trò, vị thế trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội.

Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp đã khẩn trương, nghiêm túc triển khai quán triệt, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và các Nghị quyết của Trung ương; ban hành Đề án về tổ chức cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước, đổi mới công tác thông tin tuyên truyền, đổi mới công tác dân tộc, tôn giáo… Đặc biệt, thông qua góp ý xây dựng Đảng, thông qua vai trò cầu nối của MTTQ và các tổ chức thành viên, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân ngày càng gắn bó mật thiết.

Từ những kết quả sau gần10 năm thực hiện Cương lĩnh, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn khẳng định, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với MTTQ và các đoàn thể nhân dân từng bước được đổi mới theo hướng phát huy dân chủ, sáng tạo của các tổ chức, đáp ứng tốt hơn sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động theo Điều lệ của MTTQ và các đoàn thể nhân dân. Đặc biệt vị trí, vai trò của MTTQ và các đoàn thể nhân dân được từng bước thể chế hóa thành các quy định của pháp luật. Hệ thống tổ chức của MTTQ và các đoàn thể nhân dân có bước đổi mới. Hoạt động của MTTQ và các tổ chức thành viên ngày càng phát huy tốt hơn vị trí, chức năng của mình.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Trần Thanh Mẫn kiến nghị Đảng, Nhà nước, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của MTTQ, các đoàn thể nhân dân trong xây dựng, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tập trung xây dựng những văn bản quy phạm pháp luật liên quan trực tiếp đến quyền làm chủ của nhân dân.

Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam kiến nghị Đảng, Nhà nước lãnh đạo, chỉ đạo, có hướng dẫn đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của MTTQ và các đoàn thể nhân dân theo hướng phân định rõ ràng các chức năng, nhiệm vụ tham gia vào hệ thống chính trị; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, Nhà nước; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, liên thông với các cơ quan trong hệ thống chính trị để nâng cao năng suất, hiệu quả công tác.

Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tình hình mới

Phát biểu tại buổi làm việc, Trưởng ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai nhấn mạnh, Trung ương MTTQ Việt Nam và Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp đã cụ thể hóa và vận dụng sáng tạo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết Đại hội XII, đạt nhiều thành tựu quan trọng.

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc trong Cương lĩnh tiếp tục được đề cao và thể chế hóa, cụ thể hóa trong hầu hết các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để khuyến khích các tổ chức, cá nhân phát huy các nguồn lực, sức sáng tạo, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

2019 là năm diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2019 - 2024, đồng chí Trương Thị Mai đề nghị Mặt trận cần tổng kết lý luận và thực tiễn để đề ra trong văn kiện Đại hội những phương hướng giải pháp nhiệm vụ của Mặt trận về đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Mặt trận tiếp tục nghiên cứu có những đánh giá dự báo sự thay đổi của cơ cấu xã hội, các giai tầng để tiếp tục đoàn kết tập hợp nhân dân; làm rõ vai trò liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của Mặt trận; quan tâm làm rõ hơn thuận lợi cơ hội, khó khăn thách thức với xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc phát huy dân chủ trong tình hình mới, yêu cầu mới.

Đồng chí Trương Thị Mai cho rằng, phải làm sâu sắc hơn quan điểm của Đảng đối với khối đại đoàn kết toàn dân nhằm phát huy dân chủ thực chất và tạo sự đồng thuận trong xã hội để góp phần cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tăng cường vai trò của Mặt trận là liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện; có cơ chế tiếp cận tiếng nói của các tầng lớp nhân dân, các cá nhân tiêu biểu; nâng cao tính thực chất các hoạt động, các phong trào, cuộc vận động, góp phần giải quyết những vấn đề phát sinh, giải quyết những vấn đề phức tạp liên quan trực tiếp đến đời sống người dân nảy sinh của quá trình phát triển.

Đồng thời, Mặt trận phải góp phần quan trọng là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, phát huy dân chủ, tạo đồng thuận của người dân trong tham gia các phong trào thi đua yêu nước; đảm bảo cho người dân tham gia vào quá trình quyết định chính sách. Đội ngũ cán bộ Mặt trận phải là những người có năng lực, có bản lĩnh, có kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn nhằm tạo uy lực, uy danh và khẳng định vai trò của Mặt trận trong nhân dân.

Trưởng ban Dân vận Trung ương Trương Thị Mai ghi nhận những kiến nghị của Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong triển khai thực hiện Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết Đại hội XII của Đảng để báo cáo Tiểu ban văn kiện.

Tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 24-4, Đoàn Tiểu ban Văn kiện và Tiểu ban Điều lệ Đại hội XIII của Đảng, do đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương làm Trưởng đoàn đã có buổi làm việc với Ban Thường vụ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nghiên cứu, khảo sát tình hình thực tế tại địa phương để phục vụ xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII.

 

Đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Kinh tế Trung ương phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: TTXVN


Tại buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Văn Bình cho biết, Trung ương chọn tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu để nghiên cứu, khảo sát thực tiễn bổ sung vào xây dựng Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII vì đây là hai địa phương đã thực hiện rất tốt, phù hợp với những chủ trương của Trung ương trong thời gian đã qua, cũng như những định hướng trong thời gian sắp tới. Những thành tựu của hai tỉnh đã phản ánh đúng ý nguyện của Đảng trong xây dựng và phát triển đất nước.

Đồng chí Nguyễn Văn Bình đánh giá, Bà Rịa - Vũng Tàu đạt được những thành tựu kinh tế nổi bật. Tỉnh có quan điểm phát triển và mô hình phát triển nhanh, bền vững, đặc biệt là lấy người dân làm trung tâm, nhận được sự đồng thuận xã hội.

Đồng chí Nguyễn Văn Bình cũng lưu ý thêm, tỉnh cần xác định rõ thứ tự ưu tiên trong đầu tư phát triển đối với 4 trụ cột kinh tế của tỉnh là công nghiệp, cảng biển và phát triển logistic, du lịch, nông nghiệp; phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất lao động và giá trị để giải phóng nguồn lực đất đai phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa; tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp tạo môi trường thông thoáng thu hút đầu tư chứ không áp dụng mô hình cũ chạy đua cắt giảm thuế, phí…

Đồng chí Nguyễn Văn Bình đề nghị tỉnh làm rõ hơn một số vấn đề Trung ương đang rất quan tâm đối với mô hình phát triển tại địa phương là: Tính hiệu quả, bền vững của cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh; vai trò của các khu vực, thành phần kinh tế của tỉnh; thực trạng chuyển đổi mô hình tăng trưởng sang phát triển theo chiều sâu; về kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác xã; định hướng phát triển kinh tế biển để đưa Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành tỉnh mạnh về kinh tế biển; tính liên kết vùng, giữa các tỉnh với nhau; vấn đề kiểm soát quyền lực, phòng chống tham nhũng và phân cấp, phân quyền trong hệ thống để đạt hiệu quả cao nhất…

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu Nguyễn Hồng Lĩnh cho biết, những năm qua, tỉnh đã theo đuổi một mô hình kinh tế phát triển bền vững, có chọn lọc. Các dự án tỉnh triển khai tại tỉnh phải đảm bảo không xâm hại môi tường, không thâm dụng lao động, không tạo áp lực về xã hội, dân số. Thực tế, thời gian qua, tỉnh đã từng từ chối những dự án hàng tỷ USD vì không đảm bảo các tiêu chí trên. Vì vậy, 3 năm đầu (2014 - 2016) các dự án FDI đầu tư vào tỉnh giảm hẳn nhưng 2 năm trở lại đây tăng trưởng ấn tượng trở lại.

Trong giai đoạn 2011 - 2018, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đạt tốc độ tăng trưởng 6,6%, thu nhập bình quân đầu người đến cuối năm 2018 đạt hơn 5.880 USD/năm (khoảng 130 triệu đồng/năm), trở thành tỉnh có quy mô kinh tế lớn trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là một cực tăng trưởng quan trọng của cả nước. Thu ngân sách hàng năm đều cao, đóng góp lớn vào ngân sách quốc gia, luôn đứng thứ 3 cả nước sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Đến nay, tỉ lệ hộ nghèo của tỉnh theo chuẩn quốc gia chỉ còn 0,6%. Trong 3 năm qua, sản xuất công nghiệp trừ dầu khí bình quân 3 năm tăng 8,23% (Nghị quyết đề ra là tăng 7,6%). Tỉnh đã cấp phép đầu tư cho 122 dự án với tổng vốn đăng ký 3,78 tỉ USD; đón gần 8,3 triệu lượt khách du lịch lưu trú, đạt doanh thu 5.720 tỉ đồng, tăng trung bình 12,3%/năm.

Tại Tuyên Quang, Đoàn công tác của Tiểu ban Điều lệ Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng do đồng chí Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương làm Trưởng đoàn đã làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang.

 

Đồng chí Phan Đình Trạc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương phát biểu tại buổi làm việc. Ảnh: TTXVN


Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang khóa XVI, nhiệm kỳ 2015 - 2020 đã xây dựng và ban hành quy chế làm việc theo đúng quy định của Điều lệ Đảng và các quy định hướng dẫn của Trung ương. Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang đã tổ chức thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách, quyết định theo đa số, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng; đồng thời, phát huy tính chủ động, sáng tạo của cơ quan nhà nước trong tổ chức quản lý, điều hành và phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị trong việc tham gia xây dựng Đảng.

Liên tiếp trong ba năm 2016 - 2018, Tuyên Quang đều đạt và vượt các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 7,9%/năm; giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 12,5%/năm; giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 23,3% năm 2016 xuống còn 14,5% năm 2018; thu hút trên 1,7 triệu khách du lịch năm 2018…

Về thực hiện Điều lệ Đảng, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Tuyên Quang đã quán triệt, triển khai Điều lệ Đảng tới các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên kịp thời, nghiêm túc; chỉ đạo các ban xây dựng Đảng thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng việc thực hiện quy định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng và nghiệp vụ công tác đảng viên cho các cấp ủy, tổ chức đảng. Đến hết năm 2018, toàn tỉnh có 483 tổ chức cơ sở đảng (256 đảng bộ cơ sở, 277 chi bộ cơ sở). Cấp ủy các cấp cũng đã trực tiếp kiểm tra 2.711 tổ chức đảng và 1.886 đảng viên, yêu cầu 246 tổ chức đảng và 53 đảng viên có thiếu sót nghiêm túc kiểm điểm, khắc phục.

Công tác kết nạp đảng viên được quan tâm đúng mức, bảo đảm đúng phương châm, tiêu chuẩn. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Đảng bộ tỉnh kết nạp được trên 7.700 đảng viên. Các tổ chức Đảng bám sát chức năng, nhiệm vụ của từng loại hình tổ chức cơ sở đảng; giữ vững vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo ở cơ sở…

Phát biểu tại buổi làm việc, đồng chí Phan Đình Trạc ghi nhận và đánh giá cao những kết quả mà Đảng bộ, nhân dân tỉnh Tuyên Quang đạt được sau ba năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Tỉnh ủy Tuyên Quang có nhiều cách làm hay, nổi bật trong công tác xây dựng Đảng như việc triển khai thực hiện các nghị quyết một cách bài bản, cụ thể hóa bằng các nghị quyết, chương trình, kế hoạch đề án chuyên đề, lựa chọn những việc thiết thực, trọng tâm nên đã đạt và vượt nhiều chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đề ra.

Đồng chí Phan Đình Trạc đề nghị, tỉnh tiếp tục coi trọng công tác nghiên cứu lý luận chính trị, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phòng chống tham nhũng, lãng phí; đổi mới công tác giáo dục chính trị tư tưởng và nghiên cứu học tập các nghị quyết của Đảng, phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ trong đảng, đánh giá xếp loại cán bộ đảng viên, tổ chức đảng theo quy định; có nhiều giải pháp sáng tạo, đổi mới trong công tác xây dựng Đảng...

Đồng chí Phan Đình Trạc yêu cầu, từ thực tiễn, tỉnh tiếp tục có những đề xuất, giải pháp trong công tác xây dựng Đảng, bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng để giúp Trung ương xây dựng văn kiện Đại hội XIII của Đảng bảo đảm chất lượng. Đối với những kiến nghị, đề xuất của tỉnh, Đoàn công tác tiếp thu, ghi nhận và sẽ tổng hợp báo cáo với Tiểu ban Điều lệ Đảng Đại hội XIII của Đảng.

Trước đó, Đoàn công tác của Tiểu ban Điều lệ Đảng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã khảo sát thực tế công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Huyện ủy Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang./.

BTV/TTXVN

Video