Thứ Hai, 20/11/2017
Về cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư
30/8/2017 23:25' Gửi bài này In bài này
Nước Đức đi tiên phong trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư cho tới thời điểm hiện tại - Nguồn: vtv.vn

Nội hàm cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất; là sự thay đổi cơ bản các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và kỹ thuật. Cách mạng công nghiệp khiến lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ, tạo ra lượng của cải vật chất khổng lồ cho xã hội. Năng suất lao động tăng nhanh, khoa học - công nghệ trở thành lực lượng lao động trực tiếp, phát triển kinh tế tri thức trở thành những đặc điểm chính của giai đoạn hiện nay.

Có nhiều cách phân loại khác nhau, nhưng nhìn chung, hầu hết các nhà nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng, cho đến nay lịch sử loài người đã và đang trải qua bốn cuộc cách mạng công nghiệp, với những nội dung chủ yếu sau:

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, diễn ra tại Tây Âu và Bắc Mỹ từ đầu thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX. Đây là cuộc cách mạng công nghiệp sơ khai với đúng nghĩa của nó, đánh dấu sự ra đời của hệ thống máy móc. Nhắc đến cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là nhắc đến thành tựu nổi bật: chế tạo máy móc (đặc biệt là đầu máy hơi nước), phát triển giao thông (đường sắt và đường biển).

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai được bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất (năm 1914) với thành tựu cơ bản là động cơ đốt trong (gắn với sự hình thành của các xe cơ giới) và điện. Phạm vi của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, trên cơ sở kế thừa những thành tựu khoa học đã đạt được, diễn ra rộng hơn so với cuộc cách mạng lần thứ nhất, tuy nhiên trung tâm của nó vẫn nằm tại châu Âu và Bắc Mỹ, nơi có những tiền đề và cơ sở kỹ thuật phát triển mạnh mẽ.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba được bắt đầu vào cuối những năm 60 của thế kỷ XX với sự xuất hiện của ngành điện tử và công nghệ thông tin. Cuộc cách mạng này vẫn còn tiếp diễn và chưa xác định được thời điểm kết thúc. Đây là cuộc cách mạng gắn với quá trình toàn cầu hóa sâu rộng, ảnh hưởng đến hầu hết mọi quốc gia trên thế giới. Với lượng hàng hóa khổng lồ, nhu cầu về nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm diễn ra mạnh mẽ, khiến sự gắn bó, hợp tác, ràng buộc giữa các quốc gia, các thực thể ngày càng chặt chẽ.

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư ra đời trên cơ sở nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba, trọng tâm là các phát minh, phát kiến và sự kết hợp của ba “đại xu hướng”: vật lý, số hóa và sinh học, hay là sự kết hợp của ba thế giới: thế giới vật chất, thế giới ảo (thế giới số) và thế giới sinh vật. So với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển với tốc độ cấp số nhân. Đặc trưng của cuộc cách mạng công nghiệp này là sự hợp nhất về mặt công nghệ, nhờ đó xóa bỏ ranh giới giữa các lĩnh vực vật lý, kỹ thuật số và sinh học, đem lại sự kết hợp giữa hệ thống ảo và thực thể.

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn liền với thuật ngữ “Công nghiệp 4.0”, lần đầu tiên được đưa ra tại Hội chợ Công nghệ Ha-nô-vơ (Hannover) ở Cộng hòa Liên bang Đức năm 2011. Khái niệm cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (FIR) lần đầu tiên được đề cập đến trong bản “Kế hoạch hành động chiến lược công nghệ cao” được Chính phủ Đức thông qua vào năm 2012. Đây là một chương trình hỗ trợ của Chính phủ Liên bang Đức hợp tác với giới nghiên cứu và các hiệp hội công nghiệp hàng đầu của Đức nhằm cải thiện quy trình quản lý và sản xuất trong các ngành chế tạo thông qua “điện toán hóa”. Từ đó đến nay, thuật ngữ “Công nghiệp 4.0” được sử dụng rộng rãi trên thế giới để mô tả cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Có thể thấy, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ra đời trong hoàn cảnh kinh tế thế giới đang phải trải qua những giai đoạn khó khăn, chủ nghĩa tư bản hiện đại tiếp tục phải điều chỉnh những bước đi mới sau cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu bắt đầu vào năm 2008. Thế giới nhận thức được rằng, khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu 2008 - 2009 đặt ra yêu cầu phải điều chỉnh, thậm chí thay đổi căn bản mô hình phát triển theo hướng cân bằng hơn, hiệu quả và bền vững hơn. Sau thời kỳ dài phát triển, với những thành tựu vượt bậc, loài người đã phải đối mặt với nhiều thách thức mang tính toàn cầu. Đó là những nguy cơ về an ninh phi truyền thống đòi hỏi đẩy mạnh đầu tư, nghiên cứu đổi mới, sáng tạo, tìm ra các giải pháp công nghệ, tối ưu hóa quá trình sản xuất theo hướng bền vững hơn.

Hơn nữa, những thành tựu của các cuộc cách mạng công nghiệp trước đó đã khiến các nước tư bản - trung tâm của cách mạng công nghiệp trở thành những “con sếu đầu đàn” của toàn bộ nền kinh tế thế giới. Nhưng với sự lan tỏa và liên kết hiện nay, cùng với công cuộc chuyển giao công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ khiến Mỹ và các nước Tây Âu phải cạnh tranh với nhiều nền kinh tế mới nổi. Do đó, các nước công nghiệp cần phải có những phát triển mang tính bước ngoặt hơn nữa, trước sức ép phải chuyển đổi mô thức kinh tế để tiếp tục duy trì vị thế dẫn dắt nền kinh tế thế giới, nhất là trong các ngành công nghệ cao. Những ngành công nghệ cao kết tinh nhiều chất xám, trí tuệ con người đã, đang và sẽ tiếp tục tạo ra nhiều giá trị cho xã hội. Nó chắc chắn sẽ trở thành xu hướng phát triển của thế giới trong những năm tới. Ví dụ, Mỹ hiện đứng đầu về các nước đầu tư ngân sách cho các chương trình nghiên cứu và phát triển (R&D), chiếm 27% tổng chi phí R&D của thế giới(1), tiếp đó là Trung Quốc với 20%. Hai nền kinh tế đứng đầu thế giới đã chiếm gần 50% chi phí nghiên cứu hiện nay của toàn cầu là minh chứng rõ ràng nhất cho tầm quan trọng của khoa học - công nghệ.

Ngoài ra, cần khẳng định rằng, trung tâm của các cuộc cách mạng công nghiệp nằm ở các nước tư bản phát triển, và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng không ngoại lệ. Thành tựu khoa học là của toàn nhân loại, song vai trò chủ quan của các nhà tư bản là rất quan trọng. Hiện nay, xã hội các nước tư bản phát triển đang trong tình trạng già hóa dân số, thiếu hụt lao động. Xét ở khía cạnh này, lực lượng lao động giảm không những làm giảm tốc độ tăng trưởng mà còn làm giảm năng lực cạnh tranh của các nước công nghiệp phát triển và một số nền kinh tế mới nổi, đòi hỏi các nước này đầu tư nhiều hơn vào phát triển khoa học - công nghệ nhằm bù đắp thiếu hụt lao động. Đây là câu trả lời cho bài toán lao động và cạnh tranh tại các nước công nghiệp.

Tóm lại, trên sự kế thừa và phát huy những thành quả vĩ đại của nhân loại, khoa học - công nghệ trên nhiều lĩnh vực (như trí tuệ nhân tạo, công nghệ người máy, in-tơ-nét kết nối vạn vật, công nghệ na-nô, công nghệ sinh học, vật liệu mới...) vừa là động lực, vừa tạo điều kiện và là môi trường thuận lợi cho việc tiến hành cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có những tác động to lớn và rộng khắp về kinh tế, xã hội và môi trường ở tất cả các cấp độ: toàn cầu, khu vực và trong từng quốc gia.

Tác động đa chiều của cách mạng công nghiệp 4.0

Hiện nay, những tác động của cuộc cách mạng công nghiệp thế hệ mới 4.0 mặc dù chỉ trong thời gian ngắn nhưng đã thể hiện khá rõ nét. Cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về vai trò và ảnh hưởng của cuộc cách mạng này với đời sống xã hội, trong đó có ý kiến đề cao sự tích cực và cũng có những luồng dư luận nhấn mạnh đến mặt tiêu cực. Trên các phương diện kinh tế và chính trị - xã hội lại có những tác động khác nhau. Cụ thể như sau:

Về mặt kinh tế, cách mạng công nghiệp 4.0 tác động mạnh mẽ và trực tiếp đến tất cả các khâu của nền kinh tế, bao gồm sản xuất và tiêu dùng, thúc đẩy nền kinh tế thế giới chuyển sang kinh tế tri thức. Đối với các nhà sản xuất, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 chứng kiến sự du nhập của các công nghệ tiên tiến giúp tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới, tăng hiệu quả sản xuất, thúc đẩy sáng tạo và phát triển của nền công nghiệp trong dài hạn. Chi phí vận chuyển và liên lạc giảm, dây chuyền cung cấp hiệu quả hơn, chi phí thương mại được giảm thiểu.

Khâu sản xuất hiện nay đang dần được ứng dụng máy móc một cách triệt để, khi đó vai trò của người lao động trực tiếp sẽ giảm. Những nước có nguồn nhân lực giá rẻ dồi dào lại là những nước kém phát triển sẽ càng khó cạnh tranh được với các nước phát triển trong khâu sản xuất. Hiện nay, sản xuất đang bắt đầu chuyển dịch dần từ các nước có nhiều lao động phổ thông và tài nguyên sang những nước có nhiều trung tâm nghiên cứu, nhiều lao động có kỹ năng, chuyên môn cao và gần thị trường tiêu thụ. Từ đó, kinh tế thế giới bước vào giai đoạn tăng trưởng chủ yếu dựa vào công nghệ và đổi mới, sáng tạo. Đây chính là những động lực không giới hạn thay cho tăng trưởng chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, sử dụng vốn, lao động phổ thông - là những yếu tố đầu vào luôn có giới hạn. Bước ngoặt lớn như trên khiến các quốc gia đang phát triển không dễ dàng theo kịp và dẫn đến nguy cơ tụt hậu. Nếu không nhanh chóng hòa nhập và tiếp thu những công nghệ mới, khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo giữa các nhóm nước sẽ tiếp tục nới rộng. Ngược lại, những quốc gia đang phát triển nhanh chóng nắm bắt được những xu hướng mới, đầu tư thích đáng và hiệu quả cho nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ sẽ có cơ hội bắt kịp các nước phát triển. Bởi những thành tựu của kinh tế tri thức đem lại là vô cùng lớn. Bên cạnh thách thức luôn là những cơ hội mà các quốc gia cần phát huy tối đa thế mạnh của mình để phát triển.

Đối với người tiêu dùng, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hứa hẹn sẽ thay đổi phương thức tiêu dùng, thời gian tiếp cận sản phẩm. Các hoạt động, như tiêu dùng, sử dụng dịch vụ cơ bản đều có thể thực hiện từ xa. Thêm vào đó, người tiêu dùng được tiếp cận thông tin sản phẩm minh bạch hơn do áp lực duy trì lợi thế cạnh tranh giữa các nhà sản xuất. Từ góc độ tiêu dùng và giá cả, mọi người dân đều được hưởng lợi nhờ tiếp cận được với nhiều sản phẩm và dịch vụ mới có chất lượng hơn với chi phí thấp hơn.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng tác động tích cực đến lạm phát toàn cầu. Những đột phá về công nghệ trong quá trình sản xuất và tiêu dùng đã giúp tiết kiệm nguyên vật liệu và chi phí hơn nhiều so với dây chuyền truyền thống và làm giảm mạnh áp lực chi phí đẩy đến lạm phát toàn cầu nhờ chuyển đổi sang một thế giới hiệu quả, thông minh và sử dụng nguồn lực tiết kiệm hơn. Từ góc độ sản xuất, trong dài hạn, cuộc cách mạng công nghiệp lần này sẽ tác động hết sức tích cực. Kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn tăng trưởng chủ yếu dựa vào động lực không có trần giới hạn là công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay cho tăng trưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào luôn có trần giới hạn(2). Có nhiều ý kiến cho rằng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang vẽ lại bản đồ kinh tế trên thế giới, với sự suy giảm quyền lực của các quốc gia dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên và sự gia tăng sức mạnh của các quốc gia dựa chủ yếu vào công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh đó, cách mạng công nghiệp 4.0 đặt ra nhiều thách thức mới cho các nền kinh tế. Nhiều quốc gia phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên đang phải trải qua một quá trình cơ cấu lại nền kinh tế. Ví dụ như A-rập Xê-út gần đây đã chính thức tuyên bố về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng để giảm mạnh sự phụ thuộc vào dầu mỏ. Tài nguyên khoáng sản không phải là vô tận, hơn thế nữa, các vấn đề toàn cầu đang ngày càng trở nên cấp bách, phát triển bền vững đang trở thành mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ, các quốc gia cần có chiến lược phát triển kinh tế mới, giảm sự lệ thuộc vào tài nguyên. Một ví dụ điển hình là Trung Quốc. Sau nhiều năm tăng trưởng xuất khẩu công nghệ, quốc gia này đã bắt đầu bước vào giai đoạn tạo ra công nghệ với sự xuất hiện mạnh mẽ của một số tập đoàn phát triển công nghệ hàng đầu thế giới, trở thành nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Về mặt xã hội, sự thay đổi về thói quen sản xuất, tiêu dùng, cách thức quản lý sẽ làm biến đổi mạnh mẽ trong sinh hoạt và thu nhập. Những người có trình độ tay nghề cao sẽ tận dụng được sức mạnh công nghệ và sẽ có thu nhập cao hơn. Sự chênh lệch giàu nghèo của tầng lớp được coi là “sáng tạo” nhất so với những lao động “tay chân” là rất lớn. Từ đó, bất bình đẳng xã hội có thể sẽ tiếp tục tăng. Tình trạng bị mất việc làm do sự thay đổi của công nghệ, đặc biệt đối với những tầng lớp trung niên chưa thích nghi kịp sẽ tạo ra những cú sốc cho xã hội. Điều này diễn ra không chỉ ở các nước đang phát triển mà còn ở cả các nước phát triển. Khi rô-bốt và tự động hóa lên ngôi, những người làm trong các lĩnh vực trung gian, đặc biệt là nhân công trong ngành vận tải, kế toán, môi giới bất động sản hay bảo hiểm cũng sẽ thất nghiệp.

Thực tế trong những năm gần đây, bất bình đẳng về thu nhập đã có xu hướng tăng nhanh và cách mạng công nghiệp lần thứ tư có thể sẽ khuếch đại xu hướng này do lợi nhuận từ kỹ năng cao và quá trình số hóa, tự động hóa tăng mạnh. Trong khi đó, lợi nhuận của kỹ năng giản đơn bị thay thế và giảm mạnh. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng bất bình đẳng trên toàn cầu.

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội ở nhiều nước với sự xuất hiện ngày càng đông đảo tầng lớp sáng tạo trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, thiết kế, văn hóa, nghệ thuật, giải trí, truyền thông, giáo dục, đào tạo, y tế, pháp luật... Về việc làm, trong trung hạn và dài hạn, các ngành, lĩnh vực sử dụng nhiều lao động kỹ năng thấp sẽ bị tác động trực tiếp và nhiều nhất do nhu cầu sử dụng lao động tay nghề cao tăng trong khi nhu cầu sử dụng lao động kỹ năng thấp ngày càng giảm. Nhóm lao động chịu tác động mạnh nhất là lao động phổ thông do rất dễ bị thay thế bởi quá trình tự động hóa và người máy.

Theo Công ty nghiên cứu Rand Europe (Anh), đến năm 2020 ứng dụng của công nghệ in-tơ-nét vạn vật (Internet of Thing - IoT) sẽ đem lại doanh thu tiềm năng khổng lồ cho các ngành trên thế giới vào khoảng từ 1,4 nghìn tỷ USD đến 14,4 nghìn tỷ USD, tương đương với mức GDP của cả Liên minh châu Âu (EU). Theo dự báo của hãng tư vấn Accenture (Mỹ), nếu Mỹ đầu tư nhiều hơn 50% vào công nghệ IoT để mở rộng mạng lưới kết nối thì có thể được hưởng lợi tới 7,1 nghìn tỷ USD, góp phần nâng GDP cao hơn 2,3% vào năm 2030 so với việc đầu tư vào các dự án khác. Trong khi đó, Đức có thể đạt doanh thu 700 tỷ USD và nâng mức GDP lên tới 1,7%; Anh có thể đạt lợi nhuận 531 tỷ USD và nâng GDP lên 1,8%; Trung Quốc có thể đạt 1,8 nghìn tỷ USD và nâng GDP lên 1,3% vào năm 2030 nếu đầu tư tương tự vào IoT như Mỹ(3).

Đây là một trong những ví dụ điển hình nhất cho thấy sự tác động mạnh mẽ của cách mạng công nghiệp 4.0. Vì thế xét trên mọi phương diện có thể thấy rằng, các quốc gia bên cạnh những rủi ro cũng có rất nhiều thời cơ để tận dụng những thành tựu của cách mạng công nghệ.

Đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đây có thể coi là một “cơ hội vàng” nhằm thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển. Về khó khăn, nó xuất phát từ chính đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam. Đó là bởi chuyển dịch cơ cấu lao động trong gần 30 năm qua của Việt Nam rất chậm và chậm hơn nhiều nếu so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay vẫn dựa nhiều vào các ngành thâm dụng lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Trình độ còn lạc hậu của người lao động và của cả nền kinh tế là trở ngại lớn nhất để chúng ta bắt kịp với các thành tựu khoa học - công nghệ hiện nay và ứng dụng hiệu quả khoa học - công nghệ cũng là một vấn đề nan giải. Trong tương lai, nhiều lao động trong các ngành, nghề của Việt Nam có thể thất nghiệp, ví dụ như lao động ngành nông nghiệp, dệt may, kế toán, lắp ráp và sửa chữa thiết bị. Trong khi đó, số lao động này hiện đang chiếm một tỷ trọng không nhỏ trong lực lượng lao động của nước ta hiện nay.

Mặt khác, những yếu kém về mặt quản lý và quản trị nhà nước cũng là một trở ngại lớn với nước ta. Đổi mới mô hình quản lý, tăng cường tính tích cực, chủ động của các doanh nghiệp là một trong những mục tiêu mà chúng ta cần hướng tới. Bên cạnh mặt hợp tác, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, đặc biệt là các nước phát triển ngày càng trở nên khốc liệt, bên cạnh những nguy cơ về an ninh truyền thống, những đe dọa từ an ninh phi truyền thống cũng đặt ra nhiều thách thức với Việt Nam. Tận dụng một cách có hiệu quả thành tựu khoa học - công nghệ và nguồn vốn mà không bị lệ thuộc vào các nước phát triển là một điều cần lưu ý với các nước đang phát triển trong giai đoạn hiện nay.

Tuy nhiên, chúng ta cũng đang đứng trước những “cơ hội vàng” để đi tắt đón đầu công nghệ, ứng dụng những tiến bộ, thành tựu công nghệ của nhân loại, trước hết là công nghệ thông tin, công nghệ số, công nghệ điều khiển và tự động hóa để nâng cao năng suất, hiệu quả trong tất cả các khâu, đặc biệt là quản lý ở cả nền kinh tế, hệ thống chính quyền các cấp, tất cả các ngành lĩnh vực, ở các doanh nghiệp, cá nhân và hộ gia đình. Thế giới phát triển kinh tế tri thức mang đến cho Việt Nam cơ hội hình thành và phát triển kinh tế tri thức với vai trò đặc biệt quan trọng là con người, từ đó giúp thu hẹp khoảng cách và đuổi kịp những nước đi trước trong khu vực và thế giới thông qua tiếp thu, làm chủ và ứng dụng nhanh vào sản xuất, quản lý những tiến bộ, thành tựu công nghệ.

Công nghệ thông tin mặc dù còn mới mẻ nhưng được các chuyên gia đánh giá là một trong những ngành có tiềm năng tại Việt Nam. Với lợi thế hiện có hạ tầng in-tơ-nét tương đối tốt, giá rẻ trong khi thiết bị di động cấu hình cao, giá thấp đang trở nên phổ biến cũng như sự khuyến khích phát triển của Chính phủ, Việt Nam có tiềm năng phát triển công nghệ rất lớn...

Một số hàm ý chính sách

Như vậy, có thể thấy cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ có tác động trực tiếp, mạnh mẽ đến kinh tế - xã hội của Việt Nam. Để có thể giải quyết được những khó khăn và tận dụng được những thuận lợi do cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau đây:

Một là, đầu tư bài bản và hiệu quả cho giáo dục - đào tạo. Các chương trình từ đào tạo dạy nghề đến đào tạo đại học cần phải gắn liền với thực tiễn nhu cầu của xã hội. Nâng cao trình độ dân trí, năng lực lao động, tay nghề của người dân là một trong những trọng tâm mà nước ta đang phấn đấu. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế sâu rộng. “Thực hiện tốt cơ chế, chính sách, pháp luật về phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ; coi trọng đào tạo đại học và trên đại học, cao đẳng và dạy nghề theo chuẩn khu vực và quốc tế. Tạo chuyển biến nhanh và rõ nét trong phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế; nâng cao năng lực, trình độ quản lý nhà nước và quản trị doanh nghiệp. Đẩy mạnh xã hội hóa, giao quyền tự chủ cho các trường đại học, cao đẳng và dạy nghề công lập; khuyến khích các doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề”(4).

Hai là, đổi mới thể chế, hoàn thiện môi trường pháp lý từ Trung ương đến địa phương. Nhanh chóng hoàn thiện môi trường pháp lý cho phát triển thị trường khoa học - công nghệ theo hướng hội nhập, xây dựng môi trường pháp lý cho phát triển các ngành, nghề kinh doanh mới ở Việt Nam đang bắt đầu nảy sinh từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Cần tạo điều kiện thuận lợi về môi trường cho các doanh nghiệp được tiếp cận, tham gia và ứng dụng các công nghệ tiên tiến. Đổi mới tư duy và phương thức quản lý nhà nước dựa trên nền tảng công nghệ kỹ thuật cao để giảm thiểu thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp, bảo đảm minh bạch hóa hoạt động của các cơ quan nhà nước. Cần kiên quyết triển khai Đề án Chính phủ điện tử để giảm chi phí xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp.

Ba là, đổi mới tư duy lãnh đạo của các tổ chức trong nền kinh tế ở cấp vi mô và các nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp ở cấp độ vĩ mô. Yếu tố lãnh đạo luôn đóng vai trò chủ chốt trong sự vận hành của quốc gia. Các nhà lãnh đạo, các cá nhân và tập thể, các bộ, ban, ngành cần phải thay đổi tư duy cũ, nhanh chóng tiếp thu, học hỏi những cái mới, những thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 để trở thành những hạt nhân nền tảng cho sự chuyển mình của dân tộc, tiến bước cùng thời đại./. 

----------------------------------------------

(1) Báo cáo của National Science Board (Hội đồng khoa học quốc gia Mỹ) về các chỉ số phát triển khoa học và kỹ thuật năm 2016

(2) Tham luận của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại Hội thảo khoa học quốc tế “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam”

(3) Tổng luận “Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, Hà Nội, 2016

(4) Xem: Nghị quyết số 05-NQ/TW Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII 

Lê Thị Tình, Đoàn Thị Mai LiênTS. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Video