Thứ Hai, 19/8/2019
Hội nghị an ninh quốc tế năm 2011 trước những chủ đề nóng của thế giới và khu vực
7/2/2011 20:51' Gửi bài này In bài này

TCCSĐT - Từ ngày 4-2 đến 6-2-2011, ngay sau khi vừa kết thúc Diễn đàn kinh tế thế giới Đa-vốt lần thứ 41, tại Mu-ních (Cộng hòa Liên bang Đức) diễn ra Hội nghị an ninh quốc tế lần thứ 47. Do tính chất, nội dung và tầm quan trọng của Hội nghị an ninh quốc tế mà từ lâu diễn đàn này được dánh giá như là “Đa-vốt an ninh quốc tế”.

“Đa-vốt an ninh quốc tế”
 
Hội nghị an ninh quốc tế, hay còn được gọi là “Đa-vốt an ninh quốc tế”, là tên gọi có xuất xứ từ Hội nghị quốc tế về chính sách an ninh của đại diện bộ quốc phòng các nước thành viên NATO, được ông Ê-van Hen-rích Vôn Clây-Xmen-xin (Ewald-Heinrich von Kleist-Schmenzin), một nhà xuất bản có uy tín lớn ở Đức, đứng ra tổ chức vào năm 1962 để thảo luận và tư vấn về các vấn đề đối tác xuyên Đại Tây Dương. Thời gian đầu, Hội nghị này được tổ chức dưới sự bảo trợ của Liên minh xã hội - thiên chúa giáo. Từ năm 1998, Hội nghị được chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức tài trợ từ ngân sách của Bộ Quốc phòng. Trong 30 năm đầu, Hội nghị chỉ diễn ra trong phạm vi nội bộ NATO. Sau khi Liên Xô tan rã và Hiệp ước Vác-xa-va giải thể, từ năm 1995 Hội nghị mời Nga, các nước vùng Ban Tích, Trung và Đông Âu, khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Nam Á và Trung Đông, tham dự. Cùng với sự mở rộng về phạm vi địa lý, nội dung chương trình nghị sự của Hội nghị an ninh quốc tế ở Mu-ních ngày càng phong phú và đa dạng hơn, liên quan tới gần như tất cả các vấn đề bức thiết của nền an ninh và chính trị toàn cầu, như chống khủng bố quốc tế, cải tổ Liên hợp quốc và NATO, dàn xếp tình hình tại các “điểm nóng”, củng cố nền an ninh khu vực và toàn cầu. Hội nghị có sự tham gia của hơn 250 chính khách, các nhà ngoại giao, các nhà quân sự, các doanh nhân, các nhà hoạt động khoa học và hoạt động xã hội nổi tiếng đến từ hơn 40 quốc gia, trong đó trước hết phải kể đến các nước thành viên NATO, EU và các nước đóng vai trò quan trọng và then chốt trong nền an ninh toàn cầu và khu vực như Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ. Cũng giống như Diễn đàn kinh tế thế giới tại Đa-vốt (Thụy Sỹ), thông thường, các cuộc đối thoại tại diễn đàn Hội nghị an ninh quốc tế ở Mu-ních là không chính thức, bao gồm cả các cuộc tiếp xúc cá nhân của các thành viên tham dự, cùng nhau thảo luận về các ý tưởng, sáng kiến trong lĩnh vực chính sách an ninh. Sau đó, kết quả thảo luận tại Hội nghị sẽ được tiếp tục phát triển trong khuôn khổ hợp tác đa phương. Mặc dù các thành viên tham gia Hội nghị không đưa ra các quyết định cụ thể, cũng không thông qua thông cáo chung về kết quả đạt được, nhưng Hội nghị an ninh quốc tế ở Mu-ních đã trở thành diễn đàn quốc tế quan trọng nhằm hướng tới giải quyết những vấn đề chính trị - quân sự, chính trị - kinh tế cấp thiết nhất của khu vực và thế giới. Chính vì thế, Hội nghị an ninh quốc tế ở Mu-ních còn được gọi là “Đa-vốt an ninh quốc tế”.
 
 “Đa-vốt an ninh quốc tế” năm 2011
 
“Đa-vốt an ninh quốc tế” năm 2011 diễn ra trong bối cảnh châu Âu và thế giới đang đứng trước những chủ đề nóng về an ninh của thế giới và khu vực. Đó là, NATO vừa thông qua Chiến lược mới cho 10 năm tới tại Hội nghị thượng đỉnh tại Li-xbon vào tháng 11-2010 và “cài đặt lại” quan hệ với Nga; Tổng thống Mỹ và Nga vừa phê chuẩn Hiệp ước cắt giảm vũ khí tiến công chiến lược mới (START-3); tiến trình hoà bình Trung Đông rơi vào bế tắc; các cuộc bạo động đang bùng phát dữ dội tại Ai-cập và nhiều nước châu Phi đòi thay đổi bộ máy cầm quyền và cải cách xã hội; tình hình thế giới còn bất ổn dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế. Tham dự Hội nghị an ninh quốc tế hàng năm lần thứ 47 có khoảng 350 quan chức cao cấp thuộc các giới chính trị, kinh tế và quân sự, trong đó có Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Mun (Ban Ki-moon), Thủ tướng Đức An-giê-la Méc-ken (Angela Merkel), Thủ tướng Anh Đa-vít Ca-mê-rôn (David Cameron), Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ri Clin-tơn (Hillary Clinton), Ngoại trưởng Nga Xéc-gây La-vrốp (Sergey Lavrov).

Chủ đề chính được thảo luận tại Hội nghị là tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu tới tình hình an ninh quốc tế; diễn biến tình hình ở Áp-ga-ni-xtan; mối đe dọa của tình trạng tội phạm trong “không gian ảo”, trước hết là trên mạng internet; chiến lược an ninh ở châu Âu và sự tương tác giữa Nga và NATO trong lĩnh vực này; các kế hoạch phối hợp giữa NATO và Nga trong việc xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa chung ở châu Âu. Cuộc khủng hoảng chính trị ở châu Phi nói chung và Ai Cập nói riêng cũng là chủ đề hàng đầu trong chương trình nghị sự của Hội nghị. Trong khuôn khổ hội nghị lần này, Ngoại trưởng Mỹ Hi-la-ri Clin-tơn và người đồng cấp Nga Xéc-gây La-vrốp trao đổi các văn kiện phê chuẩn Hiệp ước START-3 vừa được tổng thống hai nước phê chuẩn. Kể từ thời điểm này, văn kiện có tầm quan trọng đặc biệt này không chỉ chính thức có hiệu lực đối với quan hệ Mỹ - Nga mà còn có hiệu lực đối với cả nền an ninh quốc tế nói chung.

Cũng tại Hội nghị, đại diện Nhóm “bộ tứ” về hòa bình Trung Đông, gồm Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nga và Mỹ gặp nhau để tìm giải pháp khôi phục các cuộc đàm phán hòa bình đang bị gián đoạn giữa Pa-le-xtin và I-xra-en do thất bại của Mỹ trong vai trò trung gian buộc I-xra-en ngừng hoạt động xây dựng các khu định cư của người Do Thái trên các vùng đất họ chiếm đóng trái phép của người Pa-le-xtin trên bờ tây sông Gioóc-đan và Giê-ru-xa-lem.

Nhìn chung, dù thảo luận thế nào đi nữa thì Hội nghị an ninh quốc tế đang phải đối mặt với tình hình thế giới đã thay đổi căn bản. Do đó, vấn đề của mọi vấn đề trong nền an ninh quốc tế là các nước cần đạt được sự thống nhất nhận thức về nguy cơ an ninh chung đối với thế giới hiện nay là gì, chúng xuất phát từ đâu, nếu không thì việc xây dựng một cơ cấu an ninh ở châu Âu và trên phạm vi toàn cầu là bài toán vô cùng phức tạp, với quá nhiều ẩn số và các yếu tố bất định. Tại Hội nghị an ninh quốc tế mấy năm gần đây đã nổi lên hai nhóm ý kiến đối lập nhau. Nhóm ý kiến thứ nhất chiếm đa số áp đảo cho rằng, cần mở rộng NATO thành tổ chức toàn cầu. Theo đó, NATO sẽ quyết định “chương trình nghị sự” quốc tế về an ninh và sẽ phối hợp với tất cả các nước để giải quyết. Nếu thực hiện theo nhóm ý kiến này, NATO sẽ trở thành công cụ của các thế lực muốn thực hiện “cuộc thập tự chinh” mà họ đã từng ôm ấp trong suốt thế kỷ XX để đạt được các tham vọng địa - chính trị và địa - kinh tế. Đã có lúc, NATO muốn thay thế vai trò của Liên hợp quốc và họ đã không ít lần đơn phương phát động chiến tranh.

Nhóm ý thứ hai đối lập với nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng, tất cả các nước trên thế giới cần phối hợp hành động để đối phó với các vấn đề an ninh toàn cầu, theo đó NATO cần phải thay đổi theo yêu cầu của hệ thống các quan hệ quốc tế mới, chứ không phải buộc các nước phải thay đổi theo NATO. Nếu NATO theo đuổi tham vọng đóng vai trò an ninh then chốt trong các lĩnh vực như an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu, an ninh thông tin, thì khi đó ở châu Âu và trên thế giới sẽ hình thành các “bức tường an ninh” mới kiên cố hơn nhiều so với Bức tường Béc-lin trong thời kỳ “chiến tranh lạnh”.

Cũng tại Hội nghị an ninh quốc tế năm 2011, đại diện của Nga nhận định, dù Mỹ và Nga đã ký kết và phê chuẩn START-3, nhưng Oa-sinh-tơn vẫn theo đuổi mục tiêu đầy tham vọng là chiếm ưu thế vượt trội trong cán cân chiến lược ở châu Âu và trên phạm vi thế giới, được thể hiện ở kế hoạch của Mỹ tiếp tục xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa riêng và sắp tới sẽ đàm phán để ép buộc Nga cắt giảm kho vũ khí hạt nhân chiến thuật trong khi Oa-sinh-tơn vẫn duy trì kho vũ khí này của Mỹ trên lãnh thổ các đồng minh ở châu Âu.

Rõ ràng, nền an ninh quốc tế đang đứng trước nhiều “thách thức nóng” và sự lựa chọn khác nhau. Hóa giải như thế nào những thách thức đó và đi theo hướng lựa chọn nào phần lớn sẽ phụ thuộc vào cán cân chiến lược - quân sự và chính trị - kinh tế giữa các quốc gia, trước hết là những quốc gia đóng vai trò then chốt như Mỹ, EU, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản v.v./.

Trà Mi

Video