Thứ Bảy, 17/11/2018
Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách công ở nước ta hiện nay
16/10/2018 23:52' Gửi bài này In bài này
Hội thảo về Quy trình chính sách ở Việt Nam do Học viện Hành chính quốc gia tổ chức - Nguồn: tcnn.vn

Chính sách công và đặc thù chính sách công ở Việt Nam

Chính sách công là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa đảng chính trị cầm quyền, nhà nước và xã hội. Theo Oxford English Dictionary, chính sách công là một đường lối hành động được thông qua hoặc theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách. Như vậy, nếu gạt đi phương thức thực hiện chính sách công mà chỉ bàn về chủ thể can dự vào chính sách theo cách tiếp cận này, có thể thấy, vai trò của “đảng”, “chính khách” là cực kỳ quan trọng. Thực tế cho thấy, chính sách đôi khi ra đời là sự thỏa hiệp hay đấu tranh giữa các đảng chính trị trong thế cân bằng giữa các nhóm lợi ích của các chính đảng này trong đời sống xã hội.

Việc nhìn nhận về bản chất của chính sách công theo hai xu thế chính: chính sách công là công việc của nhà nước hay có sự can dự của các đảng chính trị cầm quyền. Thực tế không thể phủ nhận vai trò rất tích cực và then chốt của các đảng chính trị, nhất là các đảng chính trị cầm quyền trong đời sống chính trị quốc gia. Nói cách khác, chính sách công có quan hệ mật thiết với hoạt động của các chính đảng.

Bản chất chính sách công thể hiện ở: 1- Là công cụ điều hành mà các chủ thể chính trị (thường trực vẫn là cơ quan nhà nước có thẩm quyền) sử dụng để theo đuổi lợi ích công cộng; 2- Là kết quả của việc nhà nước sử dụng quyền lực chính trị của mình định hướng sự vận động và phát triển của cả hệ thống xã hội; 3- Là quá trình thể chế hóa các mục tiêu tổng thể của chủ thể chính trị theo đuổi thông qua nhà nước; 4- Là kết quả của quá trình đấu tranh giành quyền lực chính trị, hướng đến trung tâm là quyền lực công giữa các bên có liên quan.

Nhận thức về nội hàm từ “công” trong chính sách công ở Việt Nam vẫn đang còn là sự tranh luận trong giới nghiên cứu và trong thực tiễn lãnh đạo, quản lý. “Công” trong chính sách công tiếp cận ở nhiều phương diện mang hàm nghĩa khác nhau.

Có quan niệm cho rằng, “công” là nhà nước, gắn với quyền lực công, lợi ích cho số đông, toàn dân; là sự tương phản với khu vực tư nhân. Quan niệm này đúng nhưng chưa đầy đủ, toàn diện và sâu sắc.

Có quan niệm khác cho rằng, “công” gắn liền với Nhà nước (một thành tố trong hệ thống chính trị Việt Nam bên cạnh Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội) với hệ thống tài chính, nhân sự, công cụ quản lý, điều hành xã hội mạnh mẽ; và vì vậy, chỉ duy nhất Nhà nước mới là chủ thể của chính sách công; công việc của Đảng, chính sách của Đảng không liên hệ gì với công việc làm chính sách của các cơ quan nhà nước. Thực tế diễn ra không phải như quan niệm này.

Quan niệm tiếp cận rộng hơn cho rằng, “công” hàm nghĩa - hướng đến lợi ích chung, tập thể, số đông, khác biệt với mục tiêu vì cá nhân. Cách tiếp cận này thừa nhận Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội và thậm chí cả chủ thể trong khu vực tư nhân, khu vực hỗn hợp (hợp tác công - tư) cũng là chủ thể của chính sách công, miễn là chính sách ấy vì giá trị nhân văn, hướng đến số đông thành viên trong tổ chức, cộng đồng, quốc gia. Ở góc độ này, chính sách của Đảng, các tổ chức chính trị - xã hội, thậm chí cả doanh nghiệp nhằm giải quyết các lợi ích công cũng được công nhận là chính sách công.

Từ thực tiễn đất nước, quan điểm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam thống nhất rằng: chính sách công là một tập hợp các quan điểm, tư tưởng, giải pháp, công cụ quyết định có liên quan đến nhau của chủ thể chính trị có thẩm quyền về việc lựa chọn các mục tiêu và giải pháp nhằm giải quyết một vấn đề hay đáp ứng một nhu cầu thiết yếu của thực tiễn xã hội.

Từ thực tế Việt Nam, chính sách công ở nước ta có những đặc thù sau:

Một là, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chu trình chính sách là trực tiếp, toàn diện và sâu sắc.

Vai trò, sự tác động, chi phối của Đảng đối với “vòng đời” chính sách quốc gia (từ khi ban hành, thực hiện, có kết quả, rút ra bài học) trở nên thường trực, xuyên suốt, sâu sát vào những vấn đề quan trọng đối với các chính sách then chốt của quốc gia. Các hoạt động này diễn ra thường xuyên, thể hiện công khai, trực tiếp và toàn diện trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước của Đảng. Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng bàn, ra nghị quyết về các quyết sách lớn của đất nước, căn cứ vào đó, Nhà nước có nhiệm vụ hiện thực hóa thành các nhiệm vụ cụ thể thông qua nhiều cách thức mà chính sách công là trụ cột.

Hai là, Đảng Cộng sản Việt Nam có hệ thống phương thức chuyển tải, thể hiện vai trò lãnh đạo hết sức đa dạng, phong phú và linh hoạt, mà ở đó thông qua Nhà nước đôi khi chỉ là một trong những cách hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng của Đảng thông qua chính sách công.

Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với chu trình chính sách công hiện nay

1- Hoạch định và ban hành chính sách công

Hoạch định chính sách là khâu đầu tiên trong toàn bộ chu trình chính sách. Trong quá trình này, vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện ở nhiều chiều cạnh:

Một là, xác định vấn đề và thiết lập nghị trình chính sách công.

Đối với xác định vấn đề chính sách, vai trò lãnh đạo của Đảng thể hiện ở định hướng xã hội, cân nhắc sự lựa chọn, đề xuất các vấn đề chính sách để giải quyết trong số hàng loạt các vấn đề chính sách kinh tế - xã hội đang đặt ra. Điều này thể hiện rõ ở chỗ, chỉ có các vấn đề bức thiết của xã hội phù hợp với cương lĩnh, quan điểm và đường lối của Đảng đang thực hiện thì mới được xem xét, đưa vào nghị trình, xây dựng chính sách công. Vai trò của Đảng biểu hiện ở chỗ cân nhắc, tính toán, đối chiếu vấn đề chính sách trong thực tiễn với hệ thống văn kiện mang tính chỉ đạo. Nếu phù hợp, thống nhất với định hướng chính trị của Đảng thì các vấn đề xã hội được cân nhắc sẽ trở thành vấn đề của chính sách công.

Nghị trình của chính sách công là một danh mục tất cả các vấn đề trong đời sống xã hội đã và đang phát sinh mà Nhà nước phải nghiên cứu để có giải pháp cụ thể sau khi xác định vấn đề cần có sự can thiệp bằng chính sách. Thực chất, thiết lập nghị trình chính sách là đề xuất lên các cơ quan có thẩm quyền cân nhắc sự cần thiết xây dựng, ban hành và thực thi một chính sách.

Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với giai đoạn này thể hiện ở chỗ: Danh mục các vấn đề chính sách đệ trình lên cơ quan quyền lực tối cao phải phù hợp với định hướng chính trị phản ánh thông qua văn kiện, quyết sách chính trị của Đảng. Quá trình bàn thảo, xác định vấn đề chính sách và danh sách nghị trình trình cơ quan thẩm quyền xem xét, thông qua, quyết định ban hành chính sách tùy thuộc bối cảnh chính trị, đặc biệt là phù hợp với phương diện định hướng, chỉ đạo chiến lược của Đảng ta.

Hai là, hoạch định và ban hành chính sách.

Sau khi xác định vấn đề chính sách và hoàn thiện danh mục trình cơ quan quyền lực nhà nước thông qua, hoạch định và ban hành chính sách công luôn phản ánh sự định hướng chính trị rõ nét:

Thứ nhất, với vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, sau khi xem xét thận trọng các danh mục vấn đề chính sách, trải qua quá trình nghiên cứu chính thức chính sách và lên “kịch bản” chi tiết cho các phương án, giải pháp và dự báo tác động của chính sách đó với xã hội, Quốc hội quyết định việc tổ chức thông qua các chính sách tồn tại dưới dạng các đạo luật. Sự lãnh đạo của Đảng trong khâu hoạch định chính sách thể hiện thông qua vai trò lãnh đạo của Đảng đoàn Quốc hội, các đảng viên trong Quốc hội. Sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với Quốc hội trong tổ chức hoạt động, đặc biệt là việc hoạch định và ban hành chính sách công thể hiện ở tầm quan điểm, chủ trương, chính sách lớn thông qua cương lĩnh, nghị quyết và chiến lược. Bộ Chính trị nêu phương hướng, quan điểm, chủ trương, nguyên tắc, giải pháp lớn để định hướng xây dựng và ban hành hệ thống, hoặc từng chính sách để Quốc hội, Đảng đoàn Quốc hội thảo luận, quyết định theo đa số những đạo luật, kế hoạch kinh tế - xã hội hằng năm, chính sách công nhằm giải quyết các vấn đề bức thiết do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Với những vấn đề chính sách lớn, có tính chuyên ngành, trước khi được đa số đại biểu Quốc hội thông qua, thông qua Đảng đoàn Quốc hội, Bộ Chính trị nêu phương hướng để đảng viên là đại biểu Quốc hội bàn bạc, quyết định.

Thứ hai, ở đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các vấn đề được nêu ra phản ánh trong nghị quyết, cương lĩnh, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chính cho từng chặng đường phát triển của đất nước là các vấn đề chính sách lớn, trọng đại được Đảng tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận. Do vậy, thông qua phương thức thể chế hóa sự lãnh đạo của Đảng bằng Nhà nước, mà cụ thể trong khâu hoạch định, ban hành chính sách công, Quốc hội có nhiệm vụ căn cứ vào đó tiến hành xây dựng, sửa đổi Hiến pháp và xây dựng luật, ra nghị quyết yêu cầu cơ quan thực hiện chức năng hành pháp, cơ quan tư pháp ban hành văn bản pháp quy tổ chức triển khai theo tinh thần phù hợp với các quan điểm chỉ đạo ấy; đồng thời, Quốc hội giám sát tối cao toàn bộ hoạt động này.

Ban Chấp hành Trung ương đưa ra những định hướng xây dựng, sửa đổi Hiến pháp (nếu cần), các đạo luật lớn; quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước, định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm, 6 tháng; giới thiệu nhân sự chủ chốt ứng cử vào vị trí quan trọng của Nhà nước theo luật định và thực hiện quy trình bầu cử của Nhà nước. Theo đó, các nhân sự chủ chốt các cơ quan nhà nước có vai trò quan trọng hiện thực hóa quan điểm, đường lối của Đảng trong quá trình hoạch định và ban hành chính sách (xét ngay cả cơ quan tham vấn, đệ trình và cả hệ thống cơ quan có quyền quyết định ban hành chính sách).

Bộ Chính trị định kỳ nghe Quốc hội báo cáo và cho ý kiến về chương trình xây dựng pháp luật (thực chất là hiện thực hóa chương trình xây dựng chính sách) trong 5 năm, hằng năm và 6 tháng trước khi được đa số biểu quyết thông qua; nêu rõ quan điểm chỉ đạo xây dựng luật, pháp lệnh, thậm chí quyết định ngay tại chỗ các vấn đề quan trọng nảy sinh trong các kỳ họp Quốc hội...

Các phân tích trên đây cũng đúng với trường hợp vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng ở địa phương đối với chính quyền các cấp trong việc hoạch định và ban hành chính sách tại địa phương mình.

Xin lưu ý là, chính sách công không hẳn là những thể chế được ban hành bởi Nhà nước nhằm can thiệp vào đời sống xã hội mà trong nhiều trường hợp dành dư địa cho xã hội tự giải quyết dưới hình thức tự quản của giai tầng, nhóm xã hội, cộng đồng.

Như vậy, có thể thấy, trong giai đoạn hoạch định và ban hành chính sách, để chính sách thực sự được biểu quyết thông qua và được tổ chức thực thi trên thực tế, Đảng ta mà trực tiếp là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Đảng đoàn Quốc hội đã thể hiện vai trò lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện và sâu sát, sao cho mỗi quyết định ban hành chính sách được thông qua đều phản ánh, tuân thủ, bảo đảm tính định hướng chính trị, hiện thực hóa quan điểm chính trị của Đảng, lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu tối thượng.

2- Thực thi chính sách công

Một là, đối với việc xây dựng kế hoạch triển khai chính sách công, kế hoạch tồn tại nhiều dạng, có thể là văn bản dưới luật (pháp quy), như nghị định, thông tư, quyết định, chỉ thị, chương trình, kế hoạch hành động,... chứa đựng các nội dung chuẩn bị, tính toán phương án về nguồn lực, tiến độ, cơ chế vận hành, thể chế kèm theo,... để giải quyết mục tiêu và hiện thực hóa các giải pháp trong chính sách đã được thông qua, sớm đưa chính sách vào cuộc sống và phát huy tác dụng.

Hai là, việc tổ chức phổ biến, tuyên truyền chính sách công trên thực tế là hoạt động có ý nghĩa đối với cơ quan nhà nước và các đối tượng thực thi chính sách công. Các chủ thể này dựa trên kế hoạch đã xây dựng, thống nhất hành động bằng việc phổ biến, tuyên truyền để đối tượng chính sách, mọi người dân tham gia thực thi hiểu rõ về mục đích, yêu cầu, tính đúng đắn, khả thi, lợi ích,... của chính sách trong toàn dân.

Ba là, việc phân công, phối hợp và đôn đốc thực hiện chính sách dựa trên chương trình, kế hoạch hành động đã xây dựng là quá trình hệ trọng, đòi hỏi cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong toàn hệ thống chính trị. Ngày nay, sự phối hợp thực hiện chính sách còn có sự tham gia của các tổ chức xã hội, tổ chức quốc tế và thâm nhập của các thực thể khu vực tư,...

Việc đôn đốc thực hiện chính sách dựa trên quá trình triển khai kế hoạch và chương trình hành động đã ban hành góp phần nâng cao tinh thần, ý thức trách nhiệm; kịp thời động viên, phát hiện, khắc phục sai sót, điều chỉnh kịp thời, tránh tiêu cực, vi phạm...

Thực tế cho thấy, thực thi chính sách công luôn là khâu quan trọng, khó khăn nhất, là giai đoạn đan xen nhiều hoạt động đa dạng và phức tạp. Vì vậy, đặt vai trò lãnh đạo của Đảng đối với các khâu chính của giai đoạn thực thi gần như biểu hiện đầy đủ, toàn diện các phương thức lãnh đạo chủ yếu của Đảng đối với hoạt động này. Cụ thể là:

Trong khâu hoạch định và xây dựng chính sách như phân tích trên, Đảng lãnh đạo Quốc hội (thông qua Đảng đoàn Quốc hội), hay đảng bộ các địa phương lãnh đạo đảng đoàn hội đồng nhân dân tại chính quyền địa phương thực hiện công tác này thông qua phương thức đề ra định hướng, chỉ đạo chiến lược, bằng việc thể chế hóa quan điểm, định hướng hay đội ngũ cán bộ chủ chốt,... Tương tự, do Chính phủ, bộ, ngành Trung ương, các cơ quan tư pháp (tòa án, viện kiểm sát) từ Trung ương đến địa phương, cùng với chính quyền, cơ quan chuyên môn thuộc chính quyền địa phương là nơi thực thi, triển khai chính sách thường xuyên, sôi động nhất, tiếp nhận tất cả phức tạp, tình huống nảy sinh từ đây. Do vậy, Đảng không thể buông lỏng sự lãnh đạo của mình đối với các chủ thể này.

3- Đánh giá hiệu quả chính sách công

Trong các giai đoạn của chu trình chính sách công, đánh giá chính sách được xem là công đoạn cuối cùng của “vòng đời” chính sách. Tuy là giai đoạn kết thúc, nhưng qua quá trình xem xét, đánh giá, cân nhắc toàn diện về kết quả đạt được trong thực thi chính sách với toàn bộ mục tiêu chính sách đã đề ra giúp khởi tạo vấn đề chính sách mới, và có thể từ đây hàng loạt các chính sách mới được hoạch định, ban hành, thực hiện... nối tiếp “vòng đời” chính sách công mới. Do vậy, đánh giá chính sách với kết quả của nó có thể tạo nên khởi đầu mới của chu trình chính sách mới, buộc cả hệ thống chính trị, xã hội phải đương đầu, đảm nhận và thực hiện. Để thực hiện được điều này, Đảng sử dụng các phương thức, công cụ cơ bản sau:

Một là, thông qua định hướng, chỉ đạo chiến lược. Điều này thể hiện ở các điểm trọng yếu sau:

Thứ nhất, định hướng và chỉ đạo trong việc lựa chọn các phương pháp đánh giá chính sách công phù hợp với quan điểm, định hướng chính trị và năng lực thực tại của bộ máy. Phương pháp đánh giá chính sách công đa dạng và việc sử dụng phương pháp nào quyết định đến chất lượng (như, hay không như mong muốn) của kết quả đánh giá chính sách. Thực tế cho thấy, phương pháp luận đánh giá chính sách công, kỹ thuật đánh giá này được vận dụng từ nhiều ngành khoa học, như xã hội học, kinh tế học, chính trị học, thống kê học,... Tuy nhiên, hiện nay đa phần các phương pháp đánh giá chính sách công ở nước ta chủ yếu mang tính định tính, các phương pháp định lượng, kỹ thuật nghiên cứu xã hội học chưa được quan tâm đúng mức. Điều này phản ánh nhận thức của chủ thể lãnh đạo, sự cởi mở, mức độ sẵn sàng chấp nhận các kết quả khác biệt của các chủ thể chủ trì trong việc chọn lựa phương thức để thực hiện đánh giá chính sách công.

Thứ hai, định hướng và chỉ đạo trong việc xác định (hệ) mục tiêu và nội dung được xem xét để đánh giá chính sách công. Xét trên góc độ khoa học, đánh giá chính sách công có thể hướng vào đạt được mục đích nhằm đánh giá đầu vào, đầu ra, hiệu quả, hiệu lực tác động từ chính sách, quá trình chính sách công,... nhằm đưa ra các kết quả mong đợi nhất của chủ thể. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định mục đích đánh giá chính sách tùy thuộc vào nhãn quan chính trị ở từng thời kỳ lịch sử, bối cảnh chính trị nhất định. Đó có thể đánh giá vì mục tiêu giải tỏa sức ép của công luận (khuyến khích sự quan tâm của xã hội), là thủ tục tiến hành thường niên, hay phục vụ mục tiêu chính trị - xã hội (kiến tạo chính sách, luận cứ điều chỉnh chính sách,...) của Đảng, điều hành, quản lý của Nhà nước,...

Thứ ba, định hướng và chỉ đạo trong việc xác định chủ thể tham gia đánh giá chính sách. Chủ thể này có thể là Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các hội, đoàn, doanh nghiệp, báo chí và nhân dân. Tuy nhiên, tùy theo mục tiêu chính trị và quan điểm chỉ đạo của chủ thể đánh giá mà chủ thể tham gia quá trình này có thể được mở rộng hay hạn chế. Sự định hướng cần thiết này của Đảng được quán triệt nhằm bảo đảm các kết quả đánh giá chính sách là phù hợp nguyện vọng, ý chí của Đảng; đủ luận cứ phục vụ cho quá trình lãnh đạo của Đảng trong toàn hệ thống, loại trừ trường hợp không mong muốn.

Thứ tư, định hướng và chỉ đạo trong việc xác định sử dụng kết quả đánh giá chính sách và việc khởi tạo quá trình chính sách mới. Điều này phản ánh rõ nét quan điểm và định hướng chính trị của Đảng đối với kết quả phân tích chính sách.

Hai là, Đảng thực hiện phương thức lãnh đạo thông qua tăng cường giám sát, kiểm tra chặt chẽ các vấn đề liên quan đánh giá chính sách để bảo đảm các kết quả đánh giá là khách quan, có đủ độ tin cậy, toàn diện; quá trình đánh giá được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc, bài bản và khoa học.

Ba là, Đảng quan tâm đến lãnh đạo, thể chế hóa quan điểm về công tác cán bộ nhằm củng cố, kiện toàn đội ngũ nhân sự chủ chốt và đội ngũ chuyên gia, tư vấn giàu năng lực tham gia thực hiện công tác đánh giá chính sách.

Để nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đối với hoạch định, thực thi và đánh giá chính sách công hiện nay

1- Nâng cao năng lực dự báo, phân tích, xây dựng và ngày càng hoàn thiện hệ thống quyết sách chính trị

Dự báo, cung cấp chất liệu, tư liệu, thông tin phục vụ quá trình xây dựng cương lĩnh, đường hướng và chiến lược phát triển mọi mặt đời sống xã hội của Đảng, trong đó có lĩnh vực xây dựng chính sách quốc gia. Hệ thống chính sách công ở Việt Nam vốn ra đời dựa trên nguyên tắc thể chế hóa đường lối, hiện thực hóa chiến lược do Đảng khởi xướng và xây dựng, công tác dự báo càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Việc dự đoán chính sách với tầm nhìn xa, rộng, phương pháp luận, phương pháp phân tích khoa học, hiện đại góp phần củng cố căn cứ thực tiễn, khoa học xác đáng cho quá trình hoạch định chiến lược, chính sách phát triển quốc gia từng thời kỳ, giai đoạn nhất định.

Thời gian tới, để làm tốt việc này, cần:

Một là, tiếp tục đổi mới quan điểm, tư duy tiếp cận chính sách công theo hướng cởi mở, linh hoạt, kiến tạo và lấy lợi ích nhân dân, quốc gia là trục xoay chính của phát triển bền vững đất nước, dựa trên sự kết hợp hài hòa của 4 trụ cột trong “tư duy chính sách” là:

- Tư duy khoa học, đòi hỏi chủ thể dẫn dắt chính sách công phải coi trọng chân lý, quy luật trong toàn bộ chu trình chính sách; tiếp cận vấn đề dựa trên hệ thống các phương pháp, lý thuyết, mô hình chính sách hợp lý, đúng đắn.

- Tư duy thực tiễn, yêu cầu chủ thể có vai trò lãnh đạo chính sách cần coi trọng thực tiễn, chú trọng khám phá, phát hiện vấn đề chính sách từ thực tiễn, dự báo diễn biến đời sống xã hội, đời sống chính sách trong thực tiễn làm tiền đề xây dựng, tiếp tục hoàn thiện, bổ sung chính sách mới cho đất nước ở từng giai đoạn phát triển.

- Tư duy biện chứng, cần hết sức lưu ý, thận trọng để nhận diện về mối quan hệ hữu cơ, nhân - quả của các chính sách với nhau, giữa các giai đoạn trong chu trình chính sách với nhau,... nhằm giúp hình thành tư duy tổng thể, toàn diện, bao quát trong lãnh đạo, định hướng hệ thống chính sách vĩ mô quốc gia, vùng, địa phương; đồng thời tránh tư duy chính sách kiểu cục bộ, địa phương, cát cứ.

- Tư duy phát triển, để nhìn trước, dự đoán triển vọng lạc quan của chính sách trong tương lai để vượt qua các rào cản, khó khăn trong chu trình chính sách nếu vấp phải (tuy nhiên, tránh lạc quan “tếu”); đồng thời, xác định động lực, mục tiêu cuối cùng và cao nhất của mọi chính sách chính là sự phát triển, thịnh vượng quốc gia và kiến tạo sự phát triển của xã hội.

Hai là, xây dựng hệ thống công cụ, phương thức và đội ngũ nhân sự, tổ chức nhằm phục vụ tốt nhất cho công tác dự báo, phân tích, đánh giá xu thế, diễn biến của thời cuộc trong và ngoài nước trong lãnh đạo chính sách công.

Ở đây, có 3 vấn đề lớn cần quan tâm: 1- tiếp cận những công cụ, phương thức tiên tiến; 2- xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, tài năng (sẽ đề cập phần sau) và 3- kiện toàn, hoàn thiện và đổi mới trong tổ chức bộ máy để góp phần nâng cao vai trò, sự lãnh đạo thực chất, hiệu quả của Đảng đối với chu trình chính sách công. Hiện nay, dường như các dự báo, phán đoán đời sống thực tiễn có phần “cảm quan”, nặng về kinh nghiệm mà ít coi trọng tính thực chứng với sự can thiệp của các công cụ (như phần mềm xử lí dữ liệu SPSS, công cụ phân tích SWOT, công cụ phân tích PEST, công cụ 7S, hay “bản đồ tư duy”, “bản đồ khái niệm”,...), phương thức (dự báo định tính, dự báo định lượng, ứng dụng công nghệ phân tích dữ liệu dựa trên dữ liệu lớn,...) vốn được hỗ trợ hữu hiệu bởi các mô hình, kỹ năng, lý thuyết từ kinh tế học, xã hội học, lãnh đạo học, quản trị học hiện đại, được nhiều quốc gia phát triển sử dụng.

Bên cạnh đó, Đảng cần có bộ máy, đơn vị là cơ quan thường trực, chuyên nghiệp am tường đầy đủ nghiệp vụ, bảo đảm có đội ngũ nhân sự để phục vụ chuyên về công tác tư vấn, tham vấn, dự báo trong hoạch định chính sách, chủ trương lớn của Đảng. Do vậy, việc nghiên cứu thành lập, vận hành mới một cơ quan chuyên về phân tích, dự báo và tham vấn tác động cho Đảng hay thiết kế, tổ chức lại một cách hợp lý, thông suốt, hiệu quả nhằm phát huy vị trí, vai trò là cơ quan tham mưu với chuyên gia đầu ngành của các ban Đảng, trong các hội đồng tư vấn, tổ tư vấn,... của Nhà nước và chính quyền các cấp là cần thiết.

2- Nâng cao chất lượng thể chế hóa các quyết sách chính trị thông qua cơ quan nhà nước

Thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mà nội dung, giải pháp chính sách công được hiện thực hóa. Quá trình này đòi hỏi các văn bản pháp luật không chỉ được xây dựng kịp thời, đủ về số lượng mà còn phải bảo đảm tính khả thi, chất lượng.

Hiện tại, dù vai trò lãnh đạo của Đảng đã được hiến định, song cơ chế thể chế hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, xã hội nói chung và đối với chu trình chính sách công nói riêng vẫn chưa hoàn thiện, còn quá chung chung, “đại khái”. Điều này dễ dẫn đến tính tùy tiện, tha hóa quyền lực chính trị và vô kỷ luật trong thực thi vai trò lãnh đạo chính sách công. Nếu có thể khái quát hóa toàn bộ quá trình hình thành chính sách công từ khi các vấn đề chính sách còn nằm trong tuyên ngôn chính trị, quan điểm, đường hướng, quyết sách chính trị cho đến khi chúng được thể chế hóa thông qua hệ thống pháp luật để chuyển tải linh hồn chính sách vào đời sống thực tiễn thì có thể chia quá trình ấy gồm 2 giai đoạn lớn. Trong đó, giai đoạn sau (tức thể chế hóa đường lối, chỉ đạo, quyết sách chính trị thành hệ thống pháp luật) được quy định khá chặt chẽ về trình tự, thủ tục trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015. Tuy nhiên, giai đoạn đầu tiên của quá trình ấy, tức là từ khi các vấn đề chính sách vẫn còn được chứa đựng trong tuyên ngôn, cương lĩnh, hay quyết sách chính trị thì thực tế vẫn chưa được luật hóa một cách chi tiết, tường minh để điều chỉnh (cả góc độ “luật Đảng” và “luật Nhà nước”).

Bên cạnh đó, để khắc phục tình trạng này cần phải lưu ý đến việc tăng cường tính chuyên nghiệp, chuyên trách của Quốc hội, đại biểu Quốc hội; hoàn thiện quy trình chính sách theo hướng sát thực, tích hợp với quy trình xây dựng quy phạm pháp luật hiện nay, gắn trách nhiệm tổ chức, cá nhân có liên quan trong từng giai đoạn, chu trình của “vòng đời” chính sách công.

3- Làm tốt công tác cán bộ trong các cơ quan tham vấn, xây dựng và thực thi chính sách

Công tác cán bộ là công việc của Đảng và Đảng lãnh đạo Nhà nước, xã hội thực thi chính sách thông qua đội ngũ cán bộ của Đảng. Do vậy, hơn bao giờ hết, công tác này cần được chú trọng, quan tâm đặc biệt, trong đó tập trung nâng cao hiệu quả quản trị nhân sự nhà nước; phát hiện, bồi dưỡng cán bộ giỏi, có tâm, tầm; hình thành đội ngũ cố vấn, chuyên gia chính sách trong bộ máy nhà nước; có chiến lược phát triển tổng thể đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ hoạch định chính sách nói riêng; kiên quyết xử lý nghiêm khắc những cán bộ hư hỏng, thoái hóa, biến chất.

Thiết nghĩ, đội ngũ của các cơ quan này cần phải hội tụ các yếu tố như sau:

Một là, có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với Đảng và lợi ích dân tộc. Đó là yếu tố phẩm chất chính trị của mỗi người cán bộ, đảng viên, song cán bộ trong tham vấn, xây dựng, thực thi chính sách công càng phải được coi trọng hơn cả. Làm được điều này, chúng ta sẽ có đội ngũ cán bộ bản lĩnh, hết lòng vì giá trị chung và sự phồn vinh của đất nước, đẩy lùi nhóm lợi ích hay sự xuất hiện của chủ nghĩa cá nhân, thậm chí là tham nhũng chính sách.

Hai là, có năng lực tốt về chính sách công. Trước hết đó là sự am tường về khoa học và thực tiễn của chính sách công. Kế đến, là năng lực về dự báo, phân tích chính sách hay năng lực nghiên cứu, phát hiện, tham vấn chính sách, thậm chí phản biện chính sách, năng lực đánh giá, tổ chức thực thi hiệu quả chính sách trên thực tế,.... Cuối cùng là có vốn tri thức tốt, tư duy hệ thống, biện chứng và logic mà nền tảng là sự hiểu biết sâu sắc, am tường về các vấn đề của đời sống xã hội như văn hóa, chính trị, kinh tế. Đây là những yếu tố mà nhà xây dựng chính sách ở nước ta đang rất cần.

4- Thực hiện hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát “vòng đời” hệ thống chính sách của Đảng

Tăng cường kiểm tra, giám sát chính sách và thi hành kỷ luật đối với sai phạm trong xây dựng và thực thi chính sách là yêu cầu tất yếu khách quan giúp cho Ðảng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, góp phần hoàn thành vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội; phản ánh trọng trách của Đảng đối với sự vận hành có hiệu quả của hệ thống chính sách công. Đối với hệ thống chính sách công, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng góp phần duy trì, phát huy tính tích cực của hệ thống chính sách đối với đời sống xã hội, đồng thời, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn, xử lý mặt trái, sai phạm và tiêu cực trong quá trình xây dựng, thực thi chính sách trên thực tế.

Thiết nghĩ, thời gian tới, Đảng cần tăng cường kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước trong xây dựng chính sách công nhằm ngăn ngừa, loại trừ hiện tượng tiêu cực như tham nhũng chính sách, hiện tượng “tư bản thân hữu” tham gia trong chu trình chính sách, gắn với phát huy vai trò của các thiết chế chính thức (Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng, chống tham nhũng, Ủy ban Kiểm tra, Ban Nội chính,...) và thiết chế tự quản quần chúng. /.

Trần Văn Huấn, Nguyễn Hữu HoàngHọc viện Chính trị khu vực II

Video