Thứ Ba, 11/12/2018
Sự cần thiết ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi
25/9/2018 23:1' Gửi bài này In bài này
Ảnh minh họa. Ảnh: TTXVN
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn quan tâm đến vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc, vận dụng sáng tạo, đúng đắn các nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, luôn đặt vấn đề dân tộc vào vị trí chiến lược của cách mạng. Thực tiễn khẳng định, sự bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển là nguyên tắc cơ bản và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chính sách dân tộc trong công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Ở mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng ta đều có cách tiếp cận vấn đề dân tộc phù hợp với tình hình. Từ khi công cuộc đổi mới bắt đầu, tư duy mới về công tác dân tộc đã tạo bước chuyển quan trọng trong nhận thức về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc, tác động mạnh mẽ đến việc hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Một số nghị quyết chuyên đề trong lĩnh vực công tác dân tộc đã được ban hành, như Nghị quyết số 22/NQ-TW, ngày 27-11-1989, của Bộ Chính trị khóa VI về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi; Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 khoá IX, về công tác dân tộc… Cùng với các nghị quyết chuyên đề, nhiều nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và Hội nghị Trung ương đề cập đến công tác dân tộc trong tình hình mới. Nội dung, nhiệm vụ của công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc được mở rộng, ở tầm cao hơn nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Sau hơn 30 năm đổi mới, thể chế hóa chủ trương của Đảng về chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương đã ban hành nhiều chính sách cụ thể, trọng điểm là các chính sách ưu tiên cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bao quát nhiều lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh... Việc thực hiện các chính sách đó đã thu được những kết quả đáng kể. Quyền bình đẳng về chính trị của đồng bào các dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao, kinh tế hàng hóa phát triển, hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi thay đổi rõ rệt, đời sống vật chất của người dân được cải thiện, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch trong phát triển giữa các dân tộc và các vùng dân tộc; đời sống tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, mức hưởng thụ văn hóa được nâng cao hơn so với giai đoạn trước đổi mới. Qua đó, mối quan hệ bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc được củng cố, phát triển. Nhìn tổng thể diện mạo vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có những thay đổi căn bản.

Tuy nhiên, hệ thống chính sách cho vùng dân tộc và miền núi hiện nay chủ yếu vẫn còn mang tính ngắn hạn, tản mát trong nhiều văn bản, thiên về giải quyết tình thế, lại do nhiều chủ thể ban hành, nên có sự chồng chéo, nhiều tầng nấc, khó thực hiện. Nhiều chương trình, đề án, dự án, chính sách mới chỉ đặt ra các kết quả vật chất đầu ra mà chưa tính đến hiệu quả về tinh thần; chưa bảo đảm nguồn lực thực hiện nên thiếu tính khả thi; thường tập trung vào bảo vệ quyền lợi của các dân tộc thiểu số để bảo đảm ngang bằng với dân tộc Kinh, mà lẽ ra phải tạo cơ hội để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, tiềm năng của mình vươn lên thoát nghèo, bởi chính sách, pháp luật về hỗ trợ sản xuất nặng về cho không, hỗ trợ không hoàn lại. Ngoài ra, một số chính sách đặc thù đối với vùng dân tộc thiểu số cũng chủ yếu nhằm giải quyết những vấn đề nổi cộm, như tái định cư, hỗ trợ làm nhà, cấp gạo, cấp đất ở... mà chưa có chiến lược tổng thể, lâu dài. Trong khi đó, cơ chế phối hợp thực hiện lại chưa rõ, chưa cụ thể, nên việc triển khai lại càng khó khăn, vướng mắc. Một số chính sách đem lại kết quả nhất định nhưng cũng có hệ quả phụ như phát sinh tư tưởng phân biệt đối xử, mâu thuẫn trong tranh chấp đất đai, khai thác tài nguyên; văn hóa truyền thống của dân tộc thiểu số dần mai một, thậm chí bị áp đặt do quá trình phát triển, hội nhập, đan xen và tiếp biến văn hóa. Nguyên nhân có nhiều nhưng trước hết phải kể đến việc thể chế hóa chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng chưa đầy đủ và chưa toàn diện, các chính sách chưa chú trọng giải quyết những vấn đề mới phát sinh... Đó là những “điểm nghẽn” về thể chế trong việc hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, ngày càng bộc lộ rõ trong thực tiễn.

Để khắc phục điểm này cần có các giải pháp căn cơ, ổn định, lâu dài. Từ góc độ thể chế, cần có một văn bản pháp lý có hiệu lực cao, ở tầm một đạo luật nhằm điều chỉnh một cách toàn diện, đồng bộ và thống nhất các chính sách và biện pháp hỗ trợ nêu trên. Việc ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi sẽ đáp ứng được yêu cầu đó.

Việc ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi là cần thiết vì:

Thứ nhất, nhằm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương của Đảng trong lĩnh vực dân tộc được nêu tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện khác của Đảng theo phương châm, thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

Thứ hai, nhằm cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính sách dân tộc, về quyền con người, quyền công dân. Theo đó, các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước. Tinh thần của Hiến pháp là bảo đảm quyền bình đẳng trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ hiến định của nhóm đối tượng cần được hỗ trợ, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số, các dân tộc sinh sống ở những vùng, khu vực khó khăn, thu hẹp khoảng cách với các vùng phát triển trên một số lĩnh vực trọng điểm.

Thứ ba, khắc phục về cơ bản những bất cập hiện nay về thể chế và chính sách hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Từ khi đổi mới (1986) đến nay, Nhà nước ta đã ban hành không ít văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có nhiều quy định liên quan đến việc hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tuy nhiên, chưa có văn bản nào ở cấp độ luật quy định riêng về hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Các chính sách hỗ trợ được ban hành còn tản mát, quy định rải rác ở nhiều văn bản với các cấp độ khác nhau, trong 68 luật và khoảng 200 văn bản dưới luật. Trong số văn bản dưới luật, cho đến nay, duy nhất có Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14-01-2011, về công tác dân tộc là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất quy định về các chính sách đối với vùng dân tộc thiểu số. Các văn bản còn lại chủ yếu dưới dạng thông tư hoặc quyết định phê duyệt các chương trình, đề án, chủ yếu mang tính chất quản lý, điều hành việc thực hiện đầu tư, hỗ trợ cụ thể, tính ổn định không cao, chủ yếu giải quyết những vấn đề trước mắt, cấp bách. Trong khi đó việc phân bổ nguồn lực để triển khai lại tùy thuộc vào điều kiện thực tế nên hiệu quả thấp. Nếu tiếp tục ban hành những chính sách ngắn hạn, tản mát với hiệu quả thực thi thấp sẽ không giải quyết một cách căn bản nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Thứ tư, tháo gỡ ở tầm vĩ mô những vướng mắc trong thực tiễn mà hàng chục năm qua chưa thể khắc phục được. Qua kết quả điều tra kinh tế - xã hội 53 dân tộc thiểu số năm 2015 cho thấy, còn 65 xã chưa có đường ô-tô đến trung tâm; gần 1.500 thôn, bản chưa có điện lưới quốc gia; còn có 80.096 hộ dân tộc thiểu số thiếu đất ở, chiếm 2,74% tổng số hộ; 221.754 hộ thiếu đất sản xuất, chiếm 7,49% hộ dân tộc thiểu số cả nước; tỷ lệ nghèo của dân tộc thiểu số chiếm 23,1%, cận nghèo 13,6%, cao gấp 4 lần so với mức bình quân chung của cả nước; tỷ lệ tảo hôn chiếm 26,6%; tỷ lệ người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên không biết đọc, không biết viết chữ phổ thông là 20,8%. Kết quả giảm nghèo còn thiếu tính bền vững, tỷ lệ tái nghèo cao, nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt còn trên 70%; một bộ phận đồng bào vẫn còn thiếu đói, nhất là vào những tháng giáp hạt; chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số thấp, đa số lao động chưa qua đào tạo; tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng người dân tộc thiểu số trên 10.000 dân chỉ bằng 1/4 so với tỷ lệ ở vùng phát triển; vẫn còn 16 dân tộc chưa có con em học đại học. Tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị có chiều hướng giảm; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn còn thiếu cả về cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc chữa bệnh và cán bộ y tế. Người có bảo hiểm y tế vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế; văn hóa của một số dân tộc có nguy cơ bị mai một, đội ngũ cán bộ quản lý và làm công tác văn hóa còn thiếu, yếu. Số lượng nghệ nhân, văn nghệ sĩ tiêu biểu là người dân tộc thiểu số không nhiều; tình hình an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ bất ổn.

Thứ năm, việc ban hành luật nhằm nội luật hóa, bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề dân tộc mà Việt Nam tham gia và cam kết thực hiện, như Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ... Trong bối cảnh tình hình thế giới có những diễn biến khó lường về xung đột sắc tộc, tôn giáo, việc thực hiện tận tâm và trách nhiệm các văn bản pháp lý quốc tế nói trên có ý nghĩa lớn, thể hiện quyết tâm của Nhà nước trong thực hiện pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Thứ sáu, qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho thấy, một số quốc gia có nhiều dân tộc đã ban hành luật về dân tộc, trong đó quy định hỗ trợ cho người dân tộc thiểu số, như: Luật Về dân tộc thiểu số Cộng hòa Séc năm 2001; Luật Về quyền của người dân tộc thiểu số của Croát-chi-a năm 2002; Luật Dân tộc thiểu số của U-crai-na năm 1992; Luật Về quốc gia và dân tộc thiểu số và ngôn ngữ khu vực của Ba Lan; Luật Về quyền của dân tộc và dân tộc thiểu số của Hung-ga-ri năm1993; Luật Số 8371 công nhận, bảo vệ và thúc đẩy quyền của các cộng đồng văn hóa dân tộc thiểu số/dân tộc thiểu số của Phi-líp-pin năm 1997, thành lập Ủy ban quốc gia về dân tộc thiểu số, thiết lập các cơ chế thực thi, sử dụng ngân quỹ… Nhờ đó, tình hình dân tộc ở các quốc gia này cơ bản có sự ổn định, các dân tộc đoàn kết, hỗ trợ nhau cùng phát triển. Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm của các quốc gia này để xây dựng và ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Về mặt lập pháp, Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi sẽ là luật khung, quy định các vấn đề về nguyên tắc hỗ trợ, các chính sách hỗ trợ và tổ chức thực hiện. Các luật được ban hành sau này cần bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, phù hợp với các nguyên tắc, các quy định được ghi nhận trong Luật này.

Đối tượng điều chỉnh của Luật là các dân tộc cư trú ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi; các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động quản lý nhà nước về công tác dân tộc và hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Quá trình xây dựng Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi cần đi theo hướng đổi mới căn bản tư duy về chính sách dân tộc theo hướng hỗ trợ để phát triển bền vững, lấy việc phát huy nội lực và tiềm năng của các dân tộc để họ tự vươn lên là cốt yếu. Xác định phát triển kinh tế là khâu đột phá, làm tiền đề để giải quyết các vấn đề khác, như văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường... Đầu tư cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi là đầu tư chiều sâu, đầu tư cho phát triển, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa đầu tư phát triển và thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội. Hạn chế tối đa cơ chế xin - cho, tạo động lực để đa số đồng bào sinh sống ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phát huy nội lực, từng bước phát triển. Đối với các dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, Nhà nước có chính sách hỗ trợ, bảo đảm toàn bộ an sinh xã hội cho họ. Luật phải điều chỉnh được những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, như mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số và dân tộc Kinh; mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu số với nhau; mối quan hệ trong nội bộ từng dân tộc thiểu số. Đồng thời cũng giải quyết được mối quan hệ giữa các dân tộc trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục... Cần bảo đảm tính công bằng, hài hòa lợi ích giữa các vùng, các dân tộc, giữa lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc. Chính sách hỗ trợ phát triển hướng tới việc coi trọng chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao năng lực cộng đồng, tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi cho đồng bào các dân tộc cư trú tại địa bàn miền núi, vùng sâu, vùng xa nâng cao năng lực và chủ động tham gia vào các hoạt động phát triển cộng đồng, cũng như được hưởng lợi từ các chính sách phát triển đó. Phát triển kinh tế - xã hội phải từng bước phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, từng bước cải thiện đời sống cho người dân, tạo ra những động lực và cơ hội mới, những điều kiện thuận lợi để các dân tộc phát huy nội lực và tiềm năng của mình.

Trên tinh thần đó, Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi cần quy định các nội dung sau đây:

Thứ nhất, về nguyên tắc hỗ trợ, Luật quy định thực hiện chính sách hỗ trợ theo nguyên tắc, các dân tộc sinh sống ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện kết hợp với việc phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của các dân tộc, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số. Nhà nước có chính sách thu hút các tổ chức, cá nhân hỗ trợ cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, phù hợp với yêu cầu và mục tiêu phát triển đất nước trong từng giai đoạn.

Thứ hai, về các chính sách hỗ trợ, Luật quy định các chính sách về giảm nghèo, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng, sản xuất, thương mại, ứng dụng khoa học - kỹ thuật, công nghệ, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và khởi nghiệp; chính sách hỗ trợ bảo tồn và phát triển văn hóa, y tế, dân số, bình đẳng giới, giảm thiểu tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục, đào tạo, dạy nghề, giải quyết việc làm; chính sách hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, hỗ trợ đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số các cấp; chính sách hỗ trợ thông tin, truyền thông, tuyên truyền, vận động, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý; chính sách hỗ trợ bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển du lịch, thể thao.

Ngoài ra, quy định một số chính sách đặc thù, như chính sách đối với người có uy tín, nhân sĩ, trí thức, doanh nhân tiêu biểu dân tộc thiểu số; chính sách hỗ trợ phát triển toàn diện các dân tộc thiểu số ít người, dân tộc thiểu số có khó khăn đặc biệt…

Thứ ba, về cơ chế và các biện pháp bảo đảm hỗ trợ, Luật cần quy định về bố trí nguồn lực, theo đó, Nhà nước có chính sách thu hút, hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi; huy động các tổ chức xã hội trong và ngoài nước tham gia cùng Nhà nước đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi; thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Thứ tư, quản lý nhà nước về thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong hoạt động hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi như Ủy ban Dân tộc, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ , Ủy ban nhân dân các cấp; trách nhiệm của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi được ban hành sẽ bảo đảm tính thống nhất với hệ thống pháp luật Việt Nam, góp phần tích cực nâng cao năng lực xây dựng và triển khai các chủ trương, chính sách phát triển dân tộc. Chính sách hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi được cụ thể hóa trong Luật là xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của người dân và coi họ là chủ thể trọng tâm của quá trình phát triển, nên sẽ tạo điều kiện và cơ hội thuận lợi cho đồng bào các tộc người thiểu số nâng cao năng lực và chủ động tham gia vào các hoạt động phát triển cũng như được hưởng lợi từ các chính sách phát triển đó. Việc ban hành Luật còn góp phần quan trọng trong đấu tranh chống lại các biểu hiện của tư tưởng phân ly hoặc hành động cố kết lại thành những cộng đồng liên dân tộc người - tôn giáo, diễn ra dưới tác động tổng hợp của nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân lịch sử, nhằm chống lại đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Việc ngăn chặn kịp thời các xu huớng này bằng biện pháp pháp luật là một giải pháp hợp pháp, phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế hiện nay. Giải quyết các vấn đề dân tộc trên cơ sở pháp luật sẽ làm cho các thế lực thù địch và phản động không có cớ để lợi dụng chính sách dân tộc chống phá Nhà nước ta./.

TS. Lê Sơn HảiPhó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc

Video