Thứ Tư, 19/12/2018
Xây dựng đội ngũ trí thức trong thời đại hiện nay
24/8/2018 22:29' Gửi bài này In bài này
Lễ Bế giảng và trao bằng tốt nghiệp tại Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội - Nguồn: cet.vnu.edu.vn

Xuất phát từ quan điểm bao trùm “con người là trung tâm, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển”, Đảng ta đã nhất quán và kiên trì thực hiện quan điểm: “Đối với trí thức, phát huy năng lực, trí tuệ, mở rộng thông tin, phát huy dân chủ, trọng dụng nhân tài. Khuyến khích các trí thức, các nhà khoa học phát minh, sáng tạo. Bảo vệ quyền sở hữu, đãi ngộ xứng đáng những cống hiến của trí thức trong công cuộc phát triển đất nước”(1). Đã có nhiều cơ chế, chính sách ưu tiên phát triển đội ngũ trí thức đã được Đảng và Nhà nước thực thi, đem lại hiệu quả tốt trong thời gian qua, như chính sách đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ trí thức; chính sách tạo môi trường phát huy vai trò của trí thức; chính sách sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh trí thức và chính sách thu hút trí thức người Việt Nam ở nước ngoài. Nhiều giải thưởng quốc gia và của các ngành, các lĩnh vực, việc phong tặng các chức danh khoa học, các danh hiệu cao quý cho trí thức, các nhà khoa học, văn nghệ sĩ,... đã được thực hiện cũng tạo sự khích lệ, động viên tinh thần đối với trí thức. Gắn liền với các chủ trương, chính sách đó là sự cố gắng trong việc đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ,... đã góp phần phát huy tiềm năng và nội lực của đội ngũ trí thức trong hoạt động thực tiễn.

Tuy nhiên, công tác xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức ở nước ta trong thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế, chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước. Nhiều chủ trương, chính sách về trí thức còn thiếu đồng bộ, chậm đi vào cuộc sống. Công tác tổ chức, thực hiện xây dựng đội ngũ trí thức còn yếu. Thiếu một chiến lược cơ bản và lâu dài trong quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức. Để bắt kịp được với sự phát triển, thay đổi của thế giới hiện nay, đặc biệt là với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, việc đề ra những quyết sách mang tầm chiến lược trong xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Thực tiễn xây dựng đội ngũ trí thức ở Việt Nam hiện nay

Công tác đào tạo phát triển đội ngũ trí thức

Trong thời gian qua, ngành giáo dục - đào tạo đã có vai trò quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ trí thức, đóng góp một phần không nhỏ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Có thể thấy, việc hình thành hệ thống các trường trung học phổ thông chuyên, lớp chọn, lớp chất lượng cao đóng góp đáng kể trong việc gia tăng số lượng và chất lượng học sinh giỏi, đóng góp tích cực vào việc phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, tài năng trong học sinh phổ thông, cung cấp nguồn tuyển sinh chất lượng cao cho các trường đại học để tiếp tục đào tạo thành đội ngũ trí thức phục vụ nhu cầu phát triển của các lĩnh vực, ngành nghề trong cả nước.

Trong giáo dục đại học, với vai trò tiên phong, và dẫn dắt nền giáo dục nước nhà, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc Đại học quốc gia Hà Nội đã thí điểm đào tạo cử nhân khoa học tài năng, các đơn vị đào tạo khác trong Đại học quốc gia Hà Nội và một số trường đại học lớn, như Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội,... đã mở các chương trình đào tạo cử nhân tài năng, chất lượng cao. Đây là một mô hình đào tạo nguồn nhân lực tài năng tiên tiến, phù hợp với điều kiện của Việt Nam và đáp ứng tốt khả năng hội nhập quốc tế. Kinh nghiệm thành công ban đầu của mô hình đào tạo nguồn nhân lực tài năng bậc đại học, sau đại học đã gợi mở ý tưởng về việc xây dựng và thực hiện thí điểm một quy trình đồng bộ, liên tục qua nhiều công đoạn: phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng trong các lĩnh vực lãnh đạo, quản lý, khoa học, công nghệ kinh doanh phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng đào tạo đội ngũ trí thức là các cán bộ khoa học, công nghệ, lãnh đạo, quản lý. Trong thời gian gần đây, mỗi năm hàng trăm sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh được gửi ra nước ngoài học tập theo các chương trình, các học bổng do các chính phủ hoặc tổ chức nước ngoài tài trợ. Năm 2000, Chính phủ đã phê duyệt Đề án 322 - “Đề án Đào tạo cán bộ khoa học - kỹ thuật tại các cơ sở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước” đã tuyển và cử được 5.833 người đi học, trong đó có 2.951 tiến sĩ, 1.603 thạc sĩ, 260 thực tập sinh và 1.019 đại học trong giai đoạn 2000 - 2013; Bên cạnh đó, Đề án 165 - Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước” của Ban Tổ chức Trung ương đã dành hàng trăm tỷ đồng mỗi năm để gửi nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên đại học đi đào tạo ở nước ngoài. Trong giai đoạn 2009 - 2013 Đề án đã bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ cho 11.690 lượt cán bộ. Trong số 941 người đi học thạc sĩ, tiến sĩ, có 158 tiến sĩ và 444 thạc sĩ đào tạo ở nước ngoài, 339 thạc sĩ đào tạo theo hình thức liên kết. Hiện nay, trí thức Việt Nam đã và đang được đào tạo ở nhiều, như Nga, Pháp, Nhật Bản, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Niu Di-lân, Ca-na-đa, Hà Lan”(2)...

Công tác quy tụ, tập hợp đội ngũ trí thức Việt Nam ở ngoài nước

Trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã có những quan tâm chú trọng đến việc thu hút trí thức Việt Nam ở nước ngoài tham gia xây dựng đất nước. Hiện nay, ngoài trí thức trong nước, có khoảng hơn 400.000 người trí thức Việt kiều (trong đó có hơn 6.000 tiến sĩ và hàng trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao) trên tổng số hơn bốn triệu người Việt Nam đang sinh sống ở gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ước tính có tới 15.000 trí thức Việt kiều tại Hoa Kỳ, 40.000 trí thức tại Pháp, 20.000 trí thức tại Ca-na-đa, 4.000 trí thức tại Đông Âu và Liên bang Nga, 7.000 trí thức tại Ô-xtrây-li-a... Đây là nguồn nhân lực quan trọng của đất nước, rất cần được phát huy và tạo điều kiện để họ góp phần xây dựng quê hương, đất nước giàu mạnh(3).

Theo số liệu của Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao, “hằng năm có khoảng 300 lượt trí thức người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc, tham gia các chương trình hợp tác nghiên cứu và triển khai khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo. Đặc biệt, giai đoạn 3 năm 2015, 2016 và 2017 đánh dấu quá trình hợp tác sôi động với mật độ liên tục, diễn ra trên khắp các lĩnh vực giữa trí thức kiều bào với trong nước với một số sự kiện tiêu biểu như: Diễn đàn Chuyên gia trí thức người Việt Nam ở nước ngoài với phát triển kinh tế và hội nhập của Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 do Bộ Ngoại giao phối hợp với Ban Kinh tế Trung ương và Nhóm Sáng kiến Việt Nam tổ chức, với sự tham dự của hơn 100 đại biểu, trong đó hơn 30 người là các chuyên gia kinh tế, tài chính, luật, hành chính công đang làm việc tại các trường đại học của Mỹ, Pháp, Ô-xtrây-li-a, Nhật,... và các tổ chức quốc tế. Hay như tại Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài đã thu hút khoảng 500 trí thức, doanh nhân, nhà hoạt động xã hội là người Việt Nam đang sinh sống tại 36 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, tham gia đóng góp ý kiến phát triển kinh tế, khoa học, nhân lực cho Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, tháng 12-2017, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã tổ chức “Diễn đàn kết nối các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo của người Việt tại Hoa Kỳ và Việt Nam” tại San Francisco và New York, Mỹ, thu hút sự tham dự của gần 150 đại biểu bao gồm các cơ quan chức năng và doanh nghiệp khởi nghiệp của Việt Nam, đại diện một số quỹ đầu tư, vườn ươm khởi nghiệp, chuyên gia khởi nghiệp của Hoa Kỳ và các doanh nghiệp khởi nghiệp thành công của người Việt tại Hoa Kỳ”(4).

Có thể thấy, những ảnh hưởng, lợi ích từ việc thu hút trí thức Việt kiều phục vụ đất nước nhằm phát huy khả năng đóng góp của họ là không hề nhỏ. Với sự tham gia của lực lượng trí thức ở nước ngoài các lĩnh vực, như hợp tác và chuyển giao công nghệ; đào tạo, bồi dưỡng; tư vấn chính sách; nghiên cứu - triển khai,... đã không ngừng phát triển và mang lại những giá trị to lớn cho các cơ quan, tổ chức triển khai. Bên cạnh đó, lực lượng trí thức Việt Nam ở nước ngoài đồng thời làm cầu nối hợp tác trong nghiên cứu khoa học, giúp tiếp cận các quỹ đầu tư tài chính, tiếp cận và mở rộng thị trường cho sản phẩm trong nước tới các quốc gia nơi họ đang sinh sống,... điển hình như việc hợp tác đồng giám đốc phòng thí nghiệm trọng điểm ở các cơ sở giáo dục đại học (trong đó một giám đốc là người của đơn vị đào tạo và một giám đốc là nhà kiều bào ta ở nước ngoài)...

Việc tạo điều kiện để trí thức Việt kiều về nước tham gia giảng dạy, nghiên cứu, chuyển giao công nghệ,... còn góp phần tạo môi trường và điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa cán bộ khoa học, kĩ thuật trong nước với trí thức Việt kiều nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ.

Những khó khăn trong công tác xây dựng đội ngũ trí thức

Về chủ trương, tuy một số nội dung của công tác phát triển đội ngũ trí thức, nhân tài đã được đề cập ở những mức độ, phạm vi khác nhau trong nhiều văn kiện của Đảng và Nhà nước, nhưng cho đến nay chúng ta chưa có một văn bản có tính hệ thống như một Nghị quyết hoặc một chiến lược riêng về công tác này. Nhìn chung, công tác này chưa được nhận thức một cách đầy đủ và thực sự được quan tâm, chỉ đạo đúng mức.

Về phương thức thực hiện, trí thức là người có phẩm chất, năng lực, trí tuệ, nhưng chúng ta chưa có cơ chế, chính sách riêng và phương thức đào tạo, sử dụng có tính đặc thù áp dụng riêng cho đối tượng đặc biệt này. Nói riêng, ở các bậc đại học và sau đại học, các trường đại học và học viện phần lớn đều thực hiện cách đào tạo bình quân, nhất loạt như nhau trong một chương trình mang tính thông thường nên không khuyến khích, tạo điều kiện để sinh viên có năng khiếu và cán bộ giảng dạy giỏi phát huy tài năng của mình; chưa có phương thức tích cực và chủ động để phát hiện và đào tạo, bồi dưỡng sinh viên xuất sắc ngay từ lúc vào trường đại học; chưa chủ động xây dựng kế hoạch, biện pháp, chính sách, cơ chế quản lý thích hợp và đồng bộ đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng sinh viên giỏi; việc liên thông đào tạo, bồi dưỡng giữa các bậc học, việc bố trí sử dụng và theo dõi sự phát triển của sinh viên tài năng sau giai đoạn đào tạo ở nhà trường, việc quản lý và sử dụng trí thức về cơ bản vẫn thực hiện theo quy trình chung như đối với tất cả các loại nhân lực khác, chưa được quan tâm đúng mức, còn nhiều hạn chế, ít chú trọng tạo điều kiện cần thiết để đội ngũ trí thức phát huy năng lực.

Về giải pháp tiến hành, việc thực hiện công tác trí thức còn mang nặng yếu tố tự phát, thiếu bài bản, tính hệ thống, liên hoàn, đồng bộ, không có sự kết hợp hài hòa giữa đào tạo và sử dụng.

Về kết quả, nhìn chung đội ngũ trí thức tài năng, chất lượng cao còn chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cả về số lượng và chất lượng. Tình trạng thiếu hụt cán bộ tài năng trong khoa học, công nghệ, kinh doanh và lãnh đạo, quản lý đang trở thành nguy cơ làm suy giảm khả năng cạnh tranh và kìm hãm nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Các giải pháp phát triển đội ngũ trí thức trong giai đoạn hiện nay

Các giải pháp đột phá

- Tiếp tục xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhân lực trình độ cao ở các nước phát triển; đẩy mạnh việc tìm kiếm, tuyển chọn các học sinh, sinh viên để đào tạo theo các chương trình cử nhân tài năng, chương trình chất lượng cao gắn với sử dụng cán bộ tài năng và trí thức trẻ, để làm cơ sở cho phát triển đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ đổi mới hiện nay.

- Thu hút các Việt kiều xuất sắc ở nước ngoài, các nhà khoa học nước ngoài, có tầm nhìn và năng lực sáng tạo cao, có phẩm chất chính trị vững vàng; đáp ứng được yêu cầu, mục tiêu phát triển ngành/chuyên ngành đào tạo, khoa học và công nghệ mới; Thu hút các du học sinh tốt nghiệp thạc sĩ, tiến sĩ xuất sắc tại các trường đại học có thứ hạng cao trên thế giới về tham gia các chương trình đạo tạo tiến sĩ tại nước nhà theo nguồn kinh phí từ của Nhà nước như Đề án 322 thay vì phải cử cán bộ ra nước ngoài đào tạo.

- Tập trung đầu tư xây dựng các trung tâm nghiên cứu xuất sắc, phòng thí nghiệm trọng điểm cấp Quốc gia đáp ứng yêu làm việc theo tiêu chuẩn quốc tế để tạo môi trường làm việc thông thoáng, hiện đại cho đội ngũ trí thức có đủ điều kiện để tập trung nghiên cứu, sáng tạo.

Giải pháp về tuyển dụng, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ trí thức

- Xây dựng các bộ tiêu chuẩn, tiêu chí và điều kiện tuyển dụng, thu hút trí thức có trình độ chuyên môn, thuộc lĩnh vực, ngành đang thiếu; đổi mới chính sách, phương thức tuyển dụng, thu hút trí thức: Xét tuyển đặc cách không qua thi tuyển vào làm việc trong các tổ chức khoa học và công nghệ đối với những người tốt nghiệp thủ khoa tại các cơ sở đào tạo trình độ đại học ở trong nước, tốt nghiệp loại giỏi, xuất sắc của các trường đại học có uy tín ở nước ngoài hoặc có kinh nghiệm công tác từ 5 năm trở lên, đáp ứng được ngay yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển dụng.

- Xây dựng đồng bộ các chính sách trong việc phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ trí thức. Quan tâm bổ nhiệm trí thức có tư duy đổi mới, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Có chính sách và kế hoạch cụ thể để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng trí thức trẻ, trí thức là những người đã có cống hiến trong hoạt động thực tiễn, trí thức người dân tộc thiểu số và các nữ trí thức.

Giải pháp về chế độ chính sách đối với đội ngũ trí thức

Các chế độ, chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với trí thức không những thu hút được những người tài giỏi mà còn chứng tỏ sự đánh giá đúng đắn giá trị sản phẩm đặc biệt do lao động trí óc tạo ra cho xã hội, vừa thể hiện sự trân trọng và tôn vinh vai trò, vị trí của trí thức đối với đất nước. Chế độ, chính sách đối với trí thức được coi là toàn diện, khi nó tạo điều kiện thuận lợi cả về vật chất lẫn tinh thần để trí thức bộc lộ hết tài năng sáng tạo và công hiến hết sức mình cho sự phồn vinh của quốc gia dân tộc. Do đó, Đảng và Nhà nước cần tập trung:

- Hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với trí thức: Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho đội ngũ trí thức làm việc và sinh hoạt, như phương tiện đi lại, làm việc, nhà công vụ; chế độ đãi ngộ cho gia đình đối với những nhà khoa học đầu đàn, đầu ngành... đồng thời có sự quan tâm đặc biết tới đội ngũ trí thức đang công tác ở miền núi, vùng có điều kiện khó khăn... Đổi mới cơ chế trả lương theo chế độ khoán sản phẩm; giao quyền tự chủ cho các tổ chức, cơ quan trong việc chi trả lương, thưởng và các chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ trí thức được thu hút về làm việc, đồng thời hạn chế, khắc phục tối đa tình trạng “chảy máu chất xám” ở các đơn vị thuộc Nhà nước quản lý.

- Xây dựng các quy định, quy chế về tôn vinh trí thức. Đánh giá năng lực theo kết quả và sản phẩm đầu ra để có những hình thức tôn vinh, tưởng thưởng tương xứng. Các hình thức tôn vinh phải thể hiện được văn hóa coi trọng hiền tài, tránh tôn vinh một cách hình thức, cào bằng, không dân chủ...

Giải pháp về điều kiện, môi trường làm việc

- Tiếp tục quan tâm và đầu tư nguồn lực tài chính trong việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật tối đa nhằm đáp ứng yêu cầu hoạt động chuyên môn, nghề nghiệp, như phòng làm việc, trang thiết bị, máy móc hiện đại, phương tiện đi lại, cơ sở nghiên cứu, phòng thí nghiệm, thư viện...

- Xây dựng môi trường, không khí làm việc sôi nổi, cởi mở để chia sẻ thông tin, sáng kiến, trí thức. Bên cạnh đó, Nhà nước cần xây dựng quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa và nghệ thuật để đội ngũ trí thức phát huy tối đa khả năng sáng tạo của mình; xây dựng các cơ chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức và gia đình an tâm công tác, đem hết tài năng phục vụ, được xã hội tôn vinh, được thăng tiến bằng chính kết quả hoạt động nghề nghiệp của mình. Cùng với việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào khai thác tiềm năng lợi thế của từng địa phương trong cả nước; gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất, ứng dụng; mở rộng giao lưu về khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa - văn nghệ trong phạm khu vực và quốc tế.

Tranh thủ ngoại lực để phát triển đội ngũ trí thức

Kinh nghiệm tranh thủ ngoại lực để đưa đất nước đi lên ngang tầm với các quốc gia phát triển của một số quốc gia, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Xin-ga-po,... là bài học còn nguyên giá trị đối với các quốc gia đang phát triển. Do đó, Việt Nam cần tranh thủ tối đa mọi nguồn lực đặc biệt là các nguồn lực tài trợ, hỗ trợ từ các Chính phủ nước ngoài để thực hiện việc phát triển đội ngũ trí thức trong nước, trong đó chú trọng thực hiện lồng ghép việc xây dựng đội ngũ trí thức gắn với thực hiện các chương trình về giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn hóa, thể thao và du lịch,... trong đó có các nguồn vốn như nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và nguồn viện trợ không hoàn lại của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài.

Xây dựng môi trường phản biện dân chủ đối với các vấn đề lớn của đất nước cho đội ngũ tri thức

Ngoài lực lượng trí thức hùng hậu trong nước, Việt Nam đang có hơn 400.000 người trí thức Việt kiều, trong đó có hơn 6.000 tiến sĩ và hàng trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao với tinh thần và trách nhiệm hướng về tổ quốc, bộ phận trí thức này cũng là một phần vốn và tài sản quý báu mà Đảng và Nhà nước ta rất trân trọng và muốn sử dụng. Tuy nhiên, những kênh liên lạc hiện nay để cho đội ngũ trí thức này tiếp cận với các thông tin, những vấn đề của đất nước còn hạn chế, nhỏ lẻ... Vì vậy, ngoài chủ trương của Đảng trong việc tạo mọi điều kiện thuận lợi cho trí thức Việt Nam ở nước ngoài được “về thăm quê hương, mở mang các hoạt động văn hóa, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, sản xuất kinh doanh, góp phần thiết thực xây dựng đất nước”(5), thì Đảng và nhà nước ta cũng cần nhanh chóng xây dựng một website hoặc kênh thông tin phản biện, tư vấn chính sách chính thức cho đội ngũ trí thức trong nước cũng như trí thức ở các quốc gia trên thế giới được tham gia phản biện, tư vấn một cách dân chủ, công khai về những chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước. Góp phần nâng cao hiệu quả, và tính thực tiễn của các quyết sách của Đảng và Nhà nước./.

--------------------------------

(1) Nghị quyết số 27-NQ/TW, ngày 6-8-2008, “Về xây dựng đội ngũ tri thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
(2) http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/tong-quan-ve-doi-ngu-tri-thuc-viet-nam-hien-nay-3317714/
(3) http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/tong-quan-ve-doi-ngu-tri-thuc-viet-nam-hien-nay-3317714/nghiep-40-8163.html
(4) http://tamnhin.net.vn/phat-huy-vai-tro-cua-tri-thuc-khcn-nguoi-viet-nam-o-nuoc-ngoai-trong-thoi-dai-cong-nghiep-40-8163.html
(5) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000, t. 51, tr. 2

Nguyễn HiệuPGS, TS, Ban Tổ chức cán bộ, Đại học Quốc gia Hà Nội

Video