Thứ Hai, 29/5/2017
Trí tuệ quản lý
12/1/2017 9:5' Gửi bài này In bài này
Vai trò của chính phủ sẽ chuyển từ chức năng kiểm soát, chỉ huy sang chức năng kiến tạo phát triển.

 Lê Qúy Đôn cho rằng: “Phi nông bất ổn - Phi công bất phú - Phi thương bất hoạt - Phi trí bất hưng”

Có thể hiểu kinh tế tri thức là một nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống. Và trong nền kinh tế đó, tri thức đóng vai trò quyết định hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia, bởi lẽ tri thức là bộ phận nguồn lực quan trọng nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất hiện đại, mà trình độ phát triển của lực lượng sản xuất lại đóng vai trò quyết định sự phát triển xã hội.

Với nhận định, thời gian tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức; hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh, Đại hội Đảng lần thứ XII xác định cần nỗ lực tập trung: “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(1).

Mặc dầu kinh tế Việt Nam trong hơn 30 năm qua đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận với chính sách đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế. Việt Nam đạt sự tăng trưởng nhanh trong những năm đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX, tiếp đó, vượt qua tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính khu vực, tiếp tục tăng trưởng khá trong thập niên đầu thế kỷ XXI… Tuy nhiên, để tiếp tục bước đi cùng một nhịp với thời đại - thời đại tri thức và thông tin, cần đổi mới tư duy dựa trên phát triển trí tuệ con người, coi tri thức là nguồn gốc của mọi của cải; coi trọng tài sản trí tuệ hơn tài sản hữu hình; đội ngũ trí thức là chủ thể của nền kinh tế tri thức, và cũng chính họ là trụ cột của nền công vụ. Một nền kinh tế không dựa vào nguồn lực trí tuệ, không được quản trị tốt sẽ không có sức cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay.

Trong nền kinh tế tri thức: trọng tâm của quản lý kinh tế cần chuyển từ quản lý nguồn lực vật chất (hữu hình) sang quản lý nguồn lực trí tuệ (vô hình), tức là chuyển sang quản lý tri thức và quản lý dựa trên tri thức, khơi dậy các năng lực sáng tạo, tạo ra tri thức mới và sử dụng có hiệu quả tri thức, biến tri thức thành giá trị. Từ đó, vai trò của chính phủ sẽ chuyển từ chức năng kiểm soát, chỉ huy sang chức năng kiến tạo phát triển, tức chức năng định hướng phát triển và chức năng bà đỡ cho nền kinh tế, tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người sản xuất kinh doanh, chăm lo nuôi dưỡng các khả năng sáng tạo, phát triển các nhân tố mới. Như vậy, cần từ bỏ cung cách quản lý quan liêu, kiến tạo một nền công vụ hướng tới thúc đẩy quá trình đổi mới dựa trên sự “thiết lập hệ thống đổi mới sáng tạo trong toàn nền kinh tế, tạo sự liên kết hữu cơ khoa học - đào tạo - sản xuất kinh doanh, cơ chế tài chính, tín dụng thỏa đáng”; phát triển thị trường công nghệ, quỹ đầu tư mạo hiểm, các khu công nghệ cao, vườn ươm công nghệ, vườn ươm doanh nghiệp, phát triển hệ thống cụm tri thức (knowledge cluster) từ trung ương đến các vùng, các địa phương để hỗ trợ thúc đẩy việc tạo và nhanh chóng sử dụng tri thức sát với tình hình cụ thể; thực thi chính sách thỏa đáng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với từng giai đoạn phát triển, theo nguyên tắc bảo đảm hài hòa lợi ích của người sáng tạo, người sử dụng và lợi ích chung của xã hội, lợi ích của đất nước. Đổi mới sáng tạo (innovation) trở thành động lực chủ yếu của sự tăng trưởng và phát triển khi nó tạo ra những của cải và các giá trị mới. Điều đó đòi hỏi phải đầu tư cho vốn tri thức, phát triển vốn tri thức, không ngừng nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới trong mọi lĩnh vực, không loại trừ lĩnh vực quản lý nhà nước, để có được cách thức quản trị, điều hành mới, tạo những sản phẩm mới, khác biệt, thậm chí duy nhất.

Để “xây dựng một nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả vì nhân dân, phục vụ nhân dân, góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phòng chống tham nhũng và bảo đảm sự thành công của công cuộc cải cách mà Đảng và Nhà nước ta đang quyết tâm thực hiện”(2) cần “phát huy trí tuệ tập thể”. Song, cũng cần ý thức rõ ràng rằng trí tuệ tập thể bao gồm các yếu tố cấu thành. Trong nền công vụ đó là “trí tuệ quản lý” - một hình thức biểu hiện đặc biệt của “trí tuệ tập thể”, một loại hình “trí tuệ chuyên môn” quản lý. Trí tuệ quản lý là sự tổng hợp đặc biệt một số phẩm chất trí tuệ xã hội và “phổ quát”, tổ hợp lô-gic và bản năng, với phong cách tư duy nổi trội là tính tổng hợp, phân tích và hữu dụng. Trí tuệ quản lý có ý nghĩa tác động to lớn đến hiệu quả của nền công vụ - hoạt động do công chức nhân danh nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo vệ nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân. Sự tác động đó tương ứng với tính thứ bậc của nền công vụ. Chức vụ càng cao thì cái giá phải trả cho các sai lầm quản lý cũng càng cao. Có sai lầm ảnh hưởng đến một cá nhân, một tập thể, có sai lầm mà có thể cả một dân tộc phải hứng chịu.

Phân tích đặc thù hoạt động chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cho thấy trong hoạt động công vụ nảy sinh và hình thành các yếu tố cấu thành của “trí tuệ chuyên môn” như: năng lực và kỹ năng sử dụng hiệu quả các công cụ hoạt động; năng lực tư duy chiến lược sâu và linh hoạt cao, sáng tạo và độc đáo, phân tích lô-gic “phản biện sâu”; hoạch định và tổ chức thực hiện công việc khoa học, có tính tác nghiệp cao, cẩn trọng và tập trung; khả năng phán đoán, phòng ngừa rủi ro, đánh giá khách quan các hậu quả, quyết đoán nhanh trong điều kiện hạn chế về thời gian, trên cơ sở kết hợp với các yếu tố của tư duy trí tuệ xã hội như năng lực tương tác và phối hợp hiệu quả với các đồng nghiệp trong thực thi công vụ.

Người cán bộ, công chức hiện đại với “trí tuệ quản lý” cần là người có:

- Ý chí, nỗ lực quyết tâm; có tích luỹ kinh nghiệm, biết không ngừng trau dồi kiến thức và học hỏi để hoàn thiện mình. Năng lực lãnh đạo là cả một quá trình mà tại đó một cá nhân có ảnh hưởng lên những người khác để họ hoàn thành một mục tiêu và một hướng dẫn nào đó theo phương cách nối kết với nhau sao cho có hiệu quả nhất. Các nhà lãnh đạo thực hiện quá trình này bằng chính các kỹ năng chỉ huy của mình, chẳng hạn như lòng tin, sự tôn trọng, cách ứng nhân xử thế, tính cách, với tư duy sắc sảo của người lãnh đạo (có lô-gic + tầm nhìn), cảm nhận được thực tiễn và luôn đi thẳng vào vấn đề.

- Có đủ năng lực, tinh thần trách nhiệm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đặc biệt đối với cán bộ, công chức lãnh đạo phải là người có thể phụ trách giải quyết các vấn đề trong những hoàn cảnh khó khăn; khi thất bại không hoang mang, khi thắng lợi không kiêu ngạo; luôn luôn giữ đúng kỷ luật.

- Thẩm thấu sâu sắc các giá trị cơ bản cơ bản của nền công vụ: bảo đảm hiệu lực và hiệu quả quản lý; tính trách nhiệm trước Nhà nước và trước nhân dân; tuân thủ pháp luật, thực hiện công bằng xã hội; tôn trọng cống hiến, công trạng và thành tích của công chức; bảo đảm quyền và nghĩa vụ của cán bộ, công chức.

- Có khả năng tiếp cận mới với các vấn đề về chính trị, kinh tế, hành chính, tư pháp, pháp lý, xã hội học, văn hóa dân tộc và sự dung hòa các nền văn hóa khác nhau, vấn đề quốc gia, dân tộc, quản trị công… trong thời đại tri thức, khi nhiều quan niệm, khái niệm thay đổi và xuất hiện mới.

- Năng lực xác lập các mối quan hệ nhân quả và vấn đề then chốt (“mắt xích” quan trọng; khâu đột phá), mà tập trung vào giải quyết sẽ quyết định được các vấn đề khác.

- Khả năng mô hình hoá các quá trình, quy trình, dự báo (đoán định) được sự phát triển và các hệ quả của hoàn cảnh gắn liền với hoạt động của cơ quan, tổ chức để có cơ sở đưa ra các quyết định quản lý tương ứng.

- Hiểu biết sâu sắc các quan tâm, lợi ích, động cơ và tâm lý con người, năng lực lựa chọn cán bộ, công chức cho các vị trí chủ chốt, tập hợp, đoàn kết và tập trung nỗ lực tập thể cho việc giải quyết các vấn đề đặt ra.

- Năng lực thao tác một khối lượng rất lớn các dữ liệu luôn biến động trong xây dựng các kế hoạch dài hạn và ngắn hạn.

- Tư duy đánh giá phê phán, kỹ năng học tập qua “rút kinh nghiệm”, hiểu biết bản chất các nguyên tắc quản lý, tính cần thiết của các biện pháp cứng rắn và không thông thường trong quan hệ với cấp dưới để đảm bảo tính thứ bậc của nền công vụ.

- Từ điển Pratique du Francais 1987 định nghĩa rất gọn rằng: "Công vụ là công việc của công chức". Như vậy, người cán bộ, công chức cần đảm bảo những yêu cầu về tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức như: tinh thông nghiệp vụ; có các kỹ năng thuần thục để thực thi các nghiệp vụ đó; hiểu rõ và biết vận dụng những nguyên tắc quản lý điều hành như một khoa học và nghệ thuật; hiểu rõ và thực thi đúng quy chế công vụ.

- Đủ năng lực cảm nhận và thực hành các giá trị nhân văn của nền công vụ, khi định hình được tri thức văn hoá nền tảng, “cốt lõi”; xác định rõ phạm vi các khái niệm tinh thần - đạo đức cơ bản và đưa chúng trở thành các hành vi công vụ; xác định được các yếu tố thúc đẩy sự chuyển biến các giá trị nhân văn của giáo dục - giáo dưỡng vào hoàn thiện nhân cách cán bộ, công chức, trên tinh thần đảm bảo mỗi cá nhân sẽ ý thức được các giá trị cơ bản (nền tảng) của cá nhân trong quá trình phát triển nhân cách.

Piter Drucker, nhà quản trị học người Mỹ đã có nhận định rằng: trong thế kỷ XXI, cơ sở nền tảng (nguyên tắc) của hoạt động doanh nghiệp được chuyển từ “dựa trên tổ chức tối ưu hóa” sang “dựa trên tri thức và thông tin”, tức là phần lớn công việc được thực hiện bởi các chuyên gia “tư duy chiến lược”. Trong quản lý nhà nước, nguyên tắc đó cũng rất phù hợp. Dựa vào đó, cần ý thức được rằng: cần có cơ chế quản lý từ “trung tâm đầu não”, nơi nghiên cứu và dự báo các vấn đề mới nảy sinh, còn các đơn vị thừa hành vẫn tiếp tục thực hiện giải quyết các vấn đề đã đặt ra. Những vấn đề dự báo không chỉ có tính lâu dài, mà có thể có tính cấp thiết cần được giải quyết ngay.

Những tri thức và thông tin cần thiết để giải quyết những vấn đề xã hội có thể có được từ 2 nguồn: phương pháp “thử nghiệm” và nghiên cứu khoa học. Phương pháp thử nghiệm dựa trên lựa chọn ngẫu nhiên một trong các phương án giải quyết vấn đề và phân tích các kết quả đạt được. Sau một loạt các thử nghiệm sẽ hình thành kinh nghiệm nhất định (tích cực và tiêu cực). Kinh nghiệm đó sẽ trở thành cơ sở của những tri thức về vấn đề. Trong khi đó, những phương pháp nghiên cứu khoa học hướng tới tìm kiếm các tri thức mới trên cơ sở tiến hành các nghiên cứu chuyên biệt.

Các quyết định được lựa chọn không phải ngẫu nhiên, mà xuất phát từ “tầm nhìn” (hình dung) về hình mẫu (mô hình) vấn đề, tức là hình dung về hệ quả của quyết định đã được lựa chọn. Nếu vấn đề nảy sinh được giải quyết thành công sẽ tạo niềm tin đối với mô hình và tạo ra tri thức về cách giải quyết vấn đề nếu xảy ra tương tự trong tương lai.

Mô hình quản lý giải quyết những vấn đề mới nảy sinh dựa trên sử dụng hai dạng tri thức, là:

- Tri thức phản ánh kinh nghiệm của mình và thế giới (tích cực và tiêu cực) trong giải quyết vấn đề quản lý;

- Tri thức có được từ mô hình hóa vấn đề và tiến hành các thử nghiệm khoa học đối với mô hình đó.

Tri thức, các tư tưởng và mô hình văn hóa quản lý là sản phẩm của hoạt động sáng tạo của con người làm cơ sở tạo lập văn hóa xã hội, trong đó phản ánh kinh nghiệm thực tiễn và nghiên cứu khoa học trong giải quyết vấn đề. Khác với các thiết chế, sáng kiến và phương thức giải quyết vấn đề hướng tới giải quyết các vấn đề cụ thể, tri thức mang tính phổ quát và cần thiết để giải quyết tất cả mọi vấn đề, tạo ra tri thức như là sản phẩm tinh thần được tích lũy trong xã hội đảm bảo tính tiến bộ của phát triển xã hội.

Quản lý bằng tri thức là một hình thức quản lý dựa trên tri thức về vấn đề, tức là những thông tin cần thiết để xác định và giải quyết các vấn đề quản lý tổ chức. Tri thức sẽ giúp và đảm bảo giảm thiểu tính vô định và rủi ro trong việc ra quyết định, nhất là đối với những quyết định có thể là sai lầm. Thị trường thông tin ngày càng phát triển như vũ bão, thông tin trở thành hàng hóa, được coi là nguồn của tri thức (knowledge resources). Hình thành đội ngũ chuyên gia về tri thức (knowledge officers) có trách nhiệm đảm bảo thông tin cho quá trình ra các quyết định quản lý trong đội ngũ cán bộ, công chức là hết sức cần thiết. Từ đó nảy sinh vấn đề hệ thống hóa tri thức nhằm tìm kiếm nhanh chóng các thông tin cần thiết. Đặc biệt là việc cần thiết chuyển từ hệ thống thông tin theo ngành, lĩnh vực (tài chính, kinh tế, văn hóa… ) sang hệ thống theo “tư duy vấn đề” nhằm giải quyết ngay và càng nhanh chóng hiệu quả hơn các vấn đề quản lý.

Công cuộc cải cách và đổi mới nền hành chính nhà nước trong giai đoạn trước mắt đang đứng trước những thách thức của sự chuyển đổi về chất sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Sự vận hành nền kinh tế theo các quy luật của thị trường đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ vai trò, chức năng của Nhà nước nói chung và của nền hành chính nhà nước nói riêng, đòi hỏi phải chuyển mạnh sang nền hành chính “phục vụ". Phải thấy rằng hội nhập quốc tế và khu vực vừa là thời cơ, thuận lợi, vừa đặt ra thách thức mới đối với nền hành chính nhà nước; quá trình đẩy mạnh dân chủ hóa đời sống xã hội, các yêu cầu về phát huy dân chủ cơ sở, thu hút mạnh mẽ sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước, về đảm bảo tính công khai, minh bạch trong thể chế, chính sách, thủ tục hành chính cũng như trong thực thi công vụ đòi hỏi, buộc các cơ quan nhà nước và các cán bộ, công chức trong bộ máy hành chính phải thích ứng cả về nội dung lẫn phương thức hoạt động; đồng thời các tiến bộ khoa học, công nghệ, yêu cầu hiện đại hóa nền hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử có tác động mạnh mẽ, trực tiếp tới tổ chức, hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính, tới việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cả về trình độ, năng lực, ý thức trách nhiệm và tác phong, phương pháp công tác. Hơn thế nữa, ảnh hưởng của cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp trước đây, sức ỳ của nền hành chính cũ đang in đậm trong nếp nghĩ, cách làm của đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy, đang là trở ngại, thách thức lớn đối với công cuộc cải cách và hiện đại hoá hành chính nhà nước hiện nay.

Tóm lại, để phấn đấu có được một nền hành chính thật sự dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện mở cửa hội nhập quốc tế hướng tới xây dựng nền kinh tế tri thức, cần hiểu rõ rằng: Tri thức và công nghệ thông tin làm chuyển đổi rất nhanh cơ cấu kinh tế xã hội. Các công nghệ cao, truớc hết là công nghệ thông tin là nguồn gốc mọi sự biến đổi lớn lao trong sản xuất xã hội, góp phần đẩy mạnh cả sự đổi mới tư duy và tất yếu dẫn tới nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá. Tri thức và thông tin luôn luôn đi tới những nơi có nhu cầu cao nhất và bị ít rào cản nhất. Vì vậy, cần đổi mới toàn diện các lĩnh vực: đổi mới mô hình tăng trưởng theo định hướng kinh tế tri thức, đổi mới doanh nghiệp theo hướng doanh nghiệp tri thức, đổi mới toàn diện và triệt để giáo dục và đào tạo, xây dựng đội ngũ trí thức đủ năng lực sáng tạo, xây dựng đội ngũ công nhân tri thức, xây dựng xã hội học tập, đổi mới hệ thống khoa học và công nghệ, nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, phát triển mạnh hạ tầng thông tin, xây dựng xã hội thông tin, hình thành hệ thống đổi mới sáng tạo có thể nhanh chóng biến tri thức thành giá trị. Vốn tri thức xã hội gắn liền với vốn con người - những nguồn lực cơ bản của phát triển. Tài nguyên là có hạn, tri thức, sự sáng tạo là vô hạn. Sức mạnh cạnh tranh trên mọi lĩnh vực ngày nay là cạnh tranh về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, là chuyển dịch hiệu quả từ trang bị kiến thức sang bồi dưỡng năng lực trong một xã hội học tập suốt đời, kể cả trong nền công vụ. Một nền công vụ hiện đại phải là “trí tuệ”, với đội ngũ cán bộ, công chức có tính chuyên nghiệp cao. Tương lai phát triển của đất nước phụ thuộc phần lớn vào đội ngũ cán bộ, công chức trí tuệ, chuyên nghiệp, tận tụy phục vụ xã hội. Sự kích hoạt đối với chuyển động đó không là gì khác, ngoài ý chí chính trị của Đảng và sự nhất quán hành chính của Nhà nước./.

-------------------------------------------

Chú thích:
1. Nghị quyết Đại hội dại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XII.
2. Nguyễn Xuân Phúc. Quyết tâm cải cách công vụ, công chức để xây dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân. Cổng TTĐT Chính phủ.http://baodientu.chinhphu.vn

PGS.TS. Lưu Kiếm Thanh, PGS.TS. Ngô Thành CanHọc viện Hành chính quốc gia

Video