Chủ Nhật, 25/8/2019
Hiện thực hóa hệ giá trị Việt Nam và các giải pháp cải cách thể chế văn hóa trong giai đoạn mới
18/3/2015 0:31' Gửi bài này In bài này

Kinh nghiệm phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới trong những năm gần đây cho thấy một vấn đề then chốt, đó là sự hình thành các giá trị tiên tiến, hiện đại và đậm đà bản sắc dân tộc ở một quốc gia thường được định hình trong môi trường thể chế văn hóa có khả năng nuôi dưỡng, kích thích, thúc đẩy sự sáng tạo và đổi mới hệ giá trị. Do vậy, với Việt Nam, việc tìm ra các giải pháp về cải cách thể chế văn hóa nhằm tạo môi trường vừa có khả năng nuôi dưỡng, bồi đắp những giá trị mang tính bền vững vừa giảm thiểu các tác nhân gây nên sự phát triển lệch lạc, tiêu cực trong đời sống văn hóa - xã hội trong giai đoạn phát triển mới là vấn đề cấp bách hiện nay.

Nhìn lại quá trình xác lập và hiện thực hóa hệ giá trị Việt Nam

Nhìn lại gần ba mươi năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, có thể thấy, từ việc kiên định cải cách tuần tự, tiệm tiến và điều chỉnh linh hoạt, nước ta đã hình thành các mô hình thể chế văn hóa mới có khả năng giải phóng năng lực sáng tạo và thúc đẩy sự định hình của hệ giá trị Việt Nam theo hướng phát triển và hội nhập sâu hơn với thế giới. Trong quá trình này, các nghị quyết của Đảng, các kết quả nghiên cứu của nhiều công trình khoa học đã xác lập nên hệ giá trị trong đó có hệ giá trị định hướng cốt lõi của Việt Nam trong giai đoạn mới, cụ thể là: Pháp trị; dân chủ; công bằng; yêu nước, tự cường dân tộc; nghĩa tình, nhân ái, khoan dung; đoàn kết; hợp tác; trung thực; sáng tạo; trách nhiệm; ý thức cộng đồng; tinh tế trong ứng xử; khoa học; chuyên nghiệp. Về cơ bản, hệ giá trị này đã kế thừa những giá trị tinh hoa của dân tộc và thế giới, đồng thời cũng chứa đựng những phẩm chất đặc thù đang định hình trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam. Bảng giá trị đã phản ánh thành công của quá trình cải cách thể chế văn hóa gắn liền với công cuộc đổi mới trên nhiều lĩnh vực chính là việc xác lập được hệ giá trị Việt Nam. Nhưng những hạn chế nảy sinh trong quá trình triển khai thể chế văn hóa trong thời gian qua cũng cho thấy dù chúng ta đã xác lập được hành lang lý luận và khung lô-gíc cho việc xác lập hệ giá trị, đặc biệt là hệ giá trị định hướng cốt lõi, song vẫn chưa hiện thực hóa hệ giá trị này một cách hiệu quả. Nguyên nhân của tình trạng này một phần là do chúng ta chưa phát huy tích cực hệ thống pháp quy văn hóa, quá trình luật hóa trong đời sống còn chậm, phương thức chỉ đạo, quản lý văn hóa còn chồng chéo, cơ chế vận hành của các tổ chức văn hóa chưa hiệu quả. Nói cách khác, cải cách thể chế văn hóa chưa tạo nên môi trường thể chế có khả năng hiện thực hóa hiệu quả hệ giá trị Việt Nam. Do vậy, cải cách thể chế văn hóa đang là một yêu cầu cần thiết hiện nay, nhằm tạo ra môi trường thể chế nuôi dưỡng và thúc đẩy giá trị Việt Nam thẩm thấu, lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống văn hóa - xã hội.

Thách thức đặt ra với việc hiện thực hóa hệ giá trị Việt Nam

Hiện nay, nước ta đang bước vào giai đoạn mới với nhiều đổi thay trong nước cũng như trên thế giới. Nền kinh tế toàn cầu vẫn còn tiếp tục rơi vào trình trạng trì trệ và các khoảng trống về giá trị vẫn tiếp tục tạo nên sự xáo trộn về các luồng tư tưởng, nhận thức, các trào lưu văn hóa. Những xáo trộn này cùng sự tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và công nghệ, bên cạnh những mặt tích cực, cũng có không ít những tác động tiêu cực trên lĩnh vực tư tưởng, đạo đức và lối sống của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ. Sự bùng nổ về thông tin, truyền thông đi liền với quá trình mở cửa, đẩy mạnh giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa, áp lực từ việc du nhập các văn hóa phẩm vào nước ta ngày càng gia tăng và khó kiểm soát, trong khi trình độ quản lý và phương tiện kỹ thuật để quản lý những vấn đề mới mẻ này còn hạn chế, dẫn đến thực trạng lúng túng, bị động trong tổ chức thực hiện.

Hiện nay, việc cải cách thể chế diễn ra còn chậm; văn hóa chưa thực sự gắn kết với sự phát triển kinh tế cũng như các ngành, các lĩnh vực trong xã hội; vai trò quan trọng của văn hóa trong quá trình hình thành chuỗi giá trị Việt Nam chưa được nhận thức đầy đủ.

Ngoài ra, công tác nghiên cứu chưa làm rõ nhiều vấn đề lý luận về phát triển hệ giá trị Việt Nam trong cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế như: mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển các sản phẩm văn hóa thể hiện rõ nét tính sáng tạo và chuỗi giá trị tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Việt Nam; mối quan hệ giữa công tác tuyên truyền, giáo dục các giá trị định hướng trong đời sống xã hội trong nước với hoạt động truyền bá hệ giá trị trong hoạt động giao lưu, quảng bá văn hóa Việt Nam ở nước ngoài. Thị trường văn hóa là nơi định hình các giá trị thông qua các sản phẩm văn hóa đang trong quá trình kiện toàn nhưng công tác quản lý văn hóa vẫn còn thụ động, chưa phát huy được khả năng sáng tạo của các chủ thể tham gia hoạt động văn hóa. Việc khai thác các nguồn lực trong nước và quốc tế cho các hoạt động văn hóa còn hạn chế. Đội ngũ cán bộ tham gia chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ văn hóa còn thiếu và yếu. Chính sách khuyến khích đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ tham gia vào sáng tạo, truyền bá, bảo tồn các giá trị văn hóa và con người còn bất cập. Tình trạng xuống cấp về tư tưởng, đạo đức, lối sống vẫn tiếp tục diễn ra. Các yếu tố ngoại lai tiêu cực, gây xói mòn các giá trị văn hóa và con người tốt đẹp đang khiến cho đời sống văn hóa - xã hội trở nên phức tạp hơn; các phong trào xây dựng văn hóa còn mang nặng tính hình thức, chạy theo thành tích, lãng phí và hiệu quả thấp.

Có thể thấy, với những hạn chế trên, thể chế văn hóa Việt Nam còn gặp nhiều thách thức trong quá trình hiện thực hóa hệ giá trị, nhằm xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Những gì đang diễn ra cho thấy dù đã có những thay đổi tích cực về phát triển văn hóa, song về cơ bản, thể chế văn hóa nước ta chưa tạo nên các động lực cần và đủ để thúc đẩy sự sáng tạo, hoàn thiện và lan tỏa sâu rộng các giá trị định hướng vào đời sống xã hội. Do vậy, cần phải tiến hành cải cách thể chế văn hóa nhằm tạo ra môi trường bảo đảm cho sự nuôi dưỡng, kích thích và hình thành một cách tự nguyện các giá trị. Nếu thực hiện được điều này, cải cách thể chế văn hóa mới thực sự là động lực giúp chúng ta vượt qua các trở ngại để hiện thực hóa hệ giá trị Việt Nam.

Giải pháp cải cách thể chế văn hóa trong giai đoạn mới

Để hiện thực hóa hệ giá trị, đặc biệt là các giá trị định hướng cốt lõi trong giai đoạn mới, chúng ta cần tiến hành các giải pháp trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục cải cách thể chế văn hóa nhằm bảo đảm môi trường lành mạnh nuôi dưỡng, kích thích sự sáng tạo, hình thành, thẩm thấu và lan tỏa hệ giá trị Việt Nam.

Quy luật từ nhiều quốc gia đã cho thấy, cải cách thể chế văn hóa chỉ thành công khi nó trở thành môi trường của sự sáng tạo, đổi mới về giá trị. Vì vậy, một trong những vấn đề cải cách thể chế văn hóa mà Việt Nam cần thực hiện trong thời gian tới là phải thiết lập được môi trường nuôi dưỡng, khuyến khích sáng tạo, hình thành, thẩm thấu và lan tỏa của các giá trị tiên tiến, hiện đại đậm đà bản sắc dân tộc. Muốn hiện thực hóa mục tiêu cải cách này, chúng ta cần phải tháo gỡ những rào cản ngăn trở sự kết nối, điều hòa, phối hợp giữa các chủ thể văn hóa (cá thể, tư nhân, doanh nghiệp, đơn vị nhà nước) tham gia vào hoạt động sáng tạo văn hóa. Đồng thời, phải tạo cơ chế giám sát, định hướng, điều chỉnh các hoạt động sáng tạo văn hóa theo những giá trị tốt đẹp đã được các khuôn khổ pháp quy chính thức xác lập và giảm thiểu các tác nhân gây nên sự phát triển lệch lạc, tiêu cực trong đời sống văn hóa xã hội. Cụ thể là kiện toàn hệ thống luật và các văn bản pháp quy về quyền sở hữu trí tuệ, bản quyền, thương hiệu sản phẩm nhằm bảo vệ và thúc đẩy nhu cầu sáng tạo các giá trị của cá nhân, tập thể trong lĩnh vực sản xuất văn hóa. Giảm thiểu các thủ tục hành chính, tạo hành lang pháp lý phù hợp để khuyến khích sự đầu tư của các tập đoàn đa quốc gia với công nghệ thể hiện rõ nhất các thành quả sáng tạo và hình thành các chuỗi giá trị mang tính toàn cầu vào Việt Nam. Tăng cường các chính sách thúc đẩy nghiên cứu và triển khai, kết hợp với nâng cao công nghệ, đặc biệt là công nghệ truyền thông, nhằm tạo nên các cơ chế ưu tiên cho các cá nhân, tập thể, tổ chức tham gia sâu hơn vào quá trình tiếp nhận chuỗi giá trị toàn cầu, từ đó kích thích hoạt động sáng tạo và hình thành các giá trị văn hóa mới gắn với tiến bộ khoa học - công nghệ. Tiếp tục đầu tư xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa hiện có, sắp xếp hợp lý các tổ chức hoạt động văn hóa của Nhà nước và các thành phần kinh tế khác; nâng cấp các đơn vị văn hóa, thông tin, nghệ thuật trọng điểm, bảo vệ và phát huy những giá trị tốt đẹp trong đời sống cộng đồng, gia đình, hình thành môi trường ổn định nuôi dưỡng và phát triển các giá trị truyền thống, tạo điều kiện kích thích sự hình thành, lan tỏa của các giá trị mới. Kiện toàn hệ thống thanh tra ngành văn hóa và hệ thống thanh tra nhân dân trong lĩnh vực văn hóa. Tăng cường sự kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là hoạt động của cơ quan kiểm tra, thanh tra, tư pháp... nhằm chống các hoạt động vi phạm pháp luật, lưu hành tràn lan các sản phẩm văn hóa độc hại trong xã hội, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm gây mất ổn định đời sống, tác động tiêu cực tới an ninh văn hóa.

Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách, biện pháp đẩy mạnh sự lan tỏa của giá trị Việt Nam ra thế giới thông qua hoạt động ngoại giao văn hóa.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, việc đẩy mạnh hoạt động ngoại giao văn hóa làm cho thế giới hiểu biết hơn về giá trị con người và văn hóa của Việt Nam nói chung, đưa quan hệ của Việt Nam với các đối tác quốc tế đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững. Qua đó phát huy vai trò của văn hóa trong việc thúc đẩy hợp tác về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, góp phần tăng cường sự phát triển của đất nước. Đồng thời, việc mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa sẽ mở ra cơ hội cho chúng ta tiếp thu được nhiều hơn tinh hoa, kinh nghiệm phát triển văn hóa của thế giới và tìm ra được các biện pháp cần thiết để hạn chế các tác động tiêu cực có nguồn gốc từ văn hóa nước ngoài, nhất là những vấn đề có liên quan tới chủ quyền lãnh thổ, an ninh văn hóa của Việt Nam. Do đó, để thực hiện thắng lợi “Chiến lược Ngoại giao Văn hóa đến năm 2020”, Việt Nam cần có những cải cách hiệu quả về thể chế ngoại giao văn hóa thông các chính sách, biện pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách ngoại giao văn hóa một cách đồng bộ trên cơ sở phù hợp với phát luật của Nhà nước, đường lối của Đảng, tình hình thực tiễn của đất nước và các cam kết quốc tế.

Thứ hai, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương để triển khai các hoạt động ngoại giao văn hóa nhằm phân định rõ nhiệm vụ, chức năng của Bộ Ngoại giao, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bộ, ngành, địa phương có liên quan trong hoạt động ngoại giao văn hóa, như: triển khai các hoạt động quảng bá giá trị văn hóa, con người Việt Nam thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, tổ chức các hoạt động giao lưu hợp tác văn hóa với các nước trên thế giới, thiết lập các tổ chức văn hóa giáo dục Việt Nam tại nước ngoài.

Thứ ba, gắn kết ngoại giao văn hóa với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế thông qua triển khai chương trình xúc tiến thương mại, chính sách khuyến khích đầu tư, tham gia các hội chợ, triển lãm có lồng ghép các chương trình thông tin quảng bá về tiềm năng và cơ hội đầu tư, giao lưu văn hóa, du lịch.

Thứ tư, đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước về chủ chương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước liên quan tới chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam để cộng đồng quốc tế hiểu thực chất vấn đề và giá trị Việt Nam thông qua cách hành xử đúng đắn trong quan hệ quốc tế, qua đó ngăn chặn, hóa giải các thông tin sai lệch từ bên ngoài tác động đến nhận thức của thế giới, khu vực.

Thứ năm, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác ngoại giao văn hóa nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách phụ trách công tác ngoại giao văn hóa, đáp ứng yêu cầu hiện thực hóa hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới./.

TS. Nguyễn Thị Thu PhươngViện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

Video