Thứ Ba, 23/7/2019
Bảo vệ môi trường trong quá trình tự do hóa thương mại
5/7/2010 7:38' Gửi bài này In bài này

TCCS - Việc giải quyết và xử lý mối quan hệ giữa thương mại và môi trường hiện nay là vấn đề mới, nhưng rất quan trọng của toàn thế giới và của mỗi quốc gia khi bước vào thế kỷ XXI trước xu thế tự do hóa thương mại toàn cầu.

1 - Thương mại là một trong những khâu quan trọng của tái sản xuất nền kinh tế - xã hội. Nó không những là cầu nối giữa tiêu dùng với sản xuất, mà còn có tác dụng định hướng tiêu dùng thân thiện hơn với môi trường và bảo đảm phát triển bền vững. Bởi vậy, sự phát triển của các hoạt động thương mại, một mặt, góp phần tích cực vào quá trình tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của nhân loại; mặt khác, trong một chừng mực nào đó, rất đặc thù, có thể tác động nhiều chiều đến môi trường sống của con người trên toàn thế giới cũng như ở mỗi quốc gia, nhất là trong quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu hiện nay.

Trước hết, tự do hóa thương mại sẽ dẫn đến quy mô các hoạt động tăng lên, vì vậy sử dụng các nguồn tài nguyên và gây ô nhiễm cũng tăng lên, kể cả việc tính toán cho một đơn vị sản lượng nhất định. Thứ hai, tự do hóa thương mại và giá cả dẫn đến việc thay đổi về cơ cấu sản lượng. Nếu nước nào có lợi thế so sánh về các hoạt động sử dụng ít tài nguyên và ít ô nhiễm, thì nhờ tự do hóa thương mại, nước đó sẽ tăng tỷ lệ các sản phẩm không gây ô nhiễm môi trường. Thứ ba, tự do hóa thương mại khuyến khích việc thay đổi công nghệ sản xuất. Ở các nước đang phát triển, công nghệ trở nên gần gũi hơn với môi trường để mở rộng lợi thế so sánh, có mức thu nhập tăng và khả năng chi trả để làm môi trường trong sạch hơn. Ngoài ra, tự do hóa thương mại còn làm giảm những trở ngại đối với người sản xuất và các dịch vụ, cho phép tăng trưởng theo hướng đa dạng hóa để tránh sự lệ thuộc quá mức vào việc xuất khẩu dựa trên tài nguyên. Cuối cùng, tự do hóa thương mại cho phép giảm bớt sự sai lệch, méo mó của giá cả. Các nguồn tài nguyên như gỗ, nước hoặc năng lượng sẽ đỡ bị trả giá quá thấp, mặc dù chúng vẫn còn chưa phản ánh đúng chi phí về môi trường của sản xuất và tiêu thụ.

Trong nhiều trường hợp, hậu quả mà môi trường phải gánh chịu do thúc đẩy sự tự do thương mại là khó tránh khỏi, ngay cả khi có những quy chế, luật lệ chặt chẽ. Vậy mà môi trường chỉ được bù đắp ở một chừng mực nào đó bằng lợi nhuận do tự do hóa thương mại đem lại.

Khuyến khích tự do thương mại trong khi vẫn duy trì và tăng cường bảo vệ môi trường và các nguồn lợi tự nhiên là một trong những thách thức lớn của thập kỷ mà chúng ta đang sống.

Lần đầu tiên thế giới đã có một tính toán về hậu quả của sự phá hủy môi trường. Giá phải trả cho việc tàn phá thiên nhiên đến năm 2050 có thể lên đến 2 nghìn tỉ ơ-rô. Theo những kết quả tính toán mới nhất vừa được ông Pa-van Su-khơ-đép (Pavan Sukhdev) - Trưởng phòng Thị trường toàn cầu của Ngân hàng Đức (Deutsche Bank) - được công bố tại hội nghị bảo vệ đa dạng sinh học diễn ra tại Bon (Đức), nếu như nạn phá rừng không bị ngăn chặn, kiềm chế, tổng sản phẩm quốc nội đến năm 2050 của toàn thế giới sẽ ít hơn 6% so với trường hợp bảo tồn rừng (tương ứng với 2 nghìn ơ-rô). Nếu tình trạng tàn phá đa dạng sinh học vẫn tiếp diễn cho đến năm 2050, cái giá của sự mất mát sẽ tương ứng với việc giảm tiêu dùng 7% của toàn thế giới.

Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, GDP tăng 1% kéo theo lượng chất thải sẽ tăng 3%. Nếu tiếp tục tình trạng này, chúng ta sẽ phải trả giá rất đắt cho cả hiện tại lẫn tương lai.

2 - Gia tăng các hoạt động thương mại phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là tinh thần chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25-6-1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15-11-2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Đối với Việt Nam, kể từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, hoạt động thương mại và dịch vụ đã phát triển với tốc độ khá nhanh và có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, xét dưới góc độ môi trường, trên nhiều khía cạnh và bình diện khác nhau như xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh xăng dầu, khách sạn, nhà hàng, dịch vụ, chợ, buôn bán động thực vật, hoạt động biên mậu,... chúng ta không thể phủ nhận những tác động xấu và những bất cập do các hoạt động này gây ra.

Trong điều kiện toàn cầu hóa và khu vực hóa đang diễn ra rất sâu sắc và nhanh chóng, thì khái niệm, ranh giới giữa thị trường trong nước với thị trường nước ngoài đã dần bị thu hẹp. Do vậy, mỗi quốc gia phải có một chiến lược dẫn tới điểm cân bằng giữa các nhân tố trong nước và nhân tố nước ngoài (gắn với thương mại và đầu tư quốc tế). Điều đó có nghĩa là câu hỏi cũ "Làm thế nào để tăng sự tiếp cận thị trường nhằm tăng xuất khẩu?" phải được thay bằng câu hỏi mới "Làm thế nào để người dân được hưởng lợi nhờ vào hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có xuất khẩu?". Đối với những nước có quy mô dân số trung bình như Việt Nam, việc tìm ra điểm cân bằng đó là rất quan trọng. Song, hiện trạng mối quan hệ giữa thương mại và môi trường ở Việt Nam như thế nào? Xin nêu một số ví dụ:

Hoạt động kinh tế đối ngoại mang đậm nét thâm dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản sẵn có của đất nước. Cùng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế và quá trình tự do hóa thương mại, nguồn tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất cũng được khai thác khá mạnh. Ngành than đã đóng góp những kết quả nhất định vào sự phát triển nền kinh tế đất nước, nhưng hậu quả do nó để lại cho môi trường cũng cực kỳ nghiêm trọng. Qua điều tra, cứ 4.000 người dân Quảng Ninh có 2.500 người mắc bệnh, trong số đó có 80% mặc bệnh bụi phổi, hen phế quản, bệnh về tai mũi họng..., có 3 đơn vị thuộc ngành than bị xếp vào danh mục ô nhiễm khá trầm trọng (ô nhiễm nước thải, không khí, chất thải).

Muốn có than, phải bạt đèo, xẻ đá, khoan đồi, khoét sâu vào lòng đất, có nơi tới gần 200m so với mặt nước biển, thậm chí có nơi sâu khoảng 6 - 7km... Theo số liệu thống kê, tỷ lệ bóc đất đá hiện nay là 5 - 5,5 lần. Điều đó có nghĩa là mỗi năm để khai thác được 30 triệu tấn than đá, công nhân ngành than phải bóc 150 - 160 triệu m3 đất đá, 7 năm khoảng 1,1 tỉ m3. Như vậy, có thể hình dung trong thời gian không xa sẽ có thêm những "ngọn núi" khổng lồ xuất hiện ở Quảng Ninh - nơi có Vịnh Hạ Long đang được xem xét, bình chọn là 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên của thế giới và hậu quả nặng nề về môi trường là không thể tránh khỏi. Một vùng đất, vùng biển, vùng đảo với những cánh rừng nguyên sinh, một vùng du lịch sinh thái đầy tiềm năng, triển vọng có thể và cần được khai thác sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Nếu tính đúng, tính đủ các loại chi phí, kể cả chi phí để giải quyết vấn đề môi trường (không ít hơn 40% - 50% tổng chi phí khai thác than theo kinh nghiệm của thế giới) thì khai thác than nói chung và xuất khẩu than nói riêng phải được xem xét một cách cẩn trọng. Trên quan điểm lợi ích quốc gia, theo ý kiến của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, việc tổ chức, đẩy mạnh và phát triển nhanh các loại hình du lịch, dịch vụ ở Quảng Ninh sẽ bù đắp được ngoại tệ cho ngành than và cứu vãn được môi trường sinh thái đang ở mức báo động cao. Đây là vấn đề cần phải được suy nghĩ một cách nghiêm túc để có một lời giải thỏa đáng trong thời gian tới.

Thêm nữa, với vị trí địa lý đặc thù, Việt Nam là một trong những trung tâm trên thế giới có các hệ sinh thái tự nhiên phong phú và đa dạng, đặc biệt là hệ sinh thái rừng tự nhiên trên cạn, đất ngập nước, đồi núi đá vôi, đất khô, cùng các hệ sinh thái tự nhiên dọc theo bờ biển và các hải đảo. Tuy nhiên, hơn 2.000 cơ sở sản xuất và chế biến đồ gỗ, với năng lực sản xuất khoảng 2,5 triệu m3 gỗ mỗi năm, trong đó có khoảng 450 doanh nghiệp tham gia xuất khẩu đồ gỗ, đã làm cho nước ta từ chỗ có nguồn tài nguyên rừng nguyên sinh phong phú đến chỗ diện tích rừng bị mất khá lớn. Số gỗ xuất lậu và buôn bán phi pháp trên thị trường nội địa chẳng những không giảm, mà còn có nguy cơ gia tăng. Với tốc độ tàn phá rừng như hiện nay (trung bình mỗi năm mất đi 200 nghìn héc-ta) thì diện tích rừng trồng mới (chỉ đạt từ 50 nghìn đến 100 nghìn héc-ta mỗi năm) quả là con số bé nhỏ. Nước ta đang đối mặt với nguy cơ không còn rừng trong thế kỷ tới.

Thế giới thừa nhận Việt Nam là một trong những nước có tính đa dạng sinh học vào loại cao nhất. Nhưng các điều tra (đã công bố) ghi nhận, có tới 400 loài động vật và 450 loại thực vật đang bị đe dọa tuyệt chủng. Về các loài bị đe dọa tuyệt chủng, Việt Nam nằm trong nhóm 15 nước hàng đầu đối với thú, nhóm 20 nước hàng đầu đối với chim, nhóm 30 nước hàng đầu đối với lưỡng cư và thực vật.

Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (tháng 4-2007), có đến 70% các dòng sông đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm, trong đó bị ô nhiễm nặng nề nhất là hệ thống sông Cầu, sông Nhuệ - Đáy và sông Đồng Nai. Những con sông này đã trở nên hôi thối, nguồn thủy sản bị hủy hoại và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường sống và sức khỏe của cộng đồng. Hệ thống sông Tiền, sông Hậu ở Tây Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long cũng đang bị ô nhiễm nặng do ảnh hưởng của khoảng 2 triệu tấn phân hóa học và gần 500.000 tấn thuốc bảo vệ thực vật.

Hiện cả nước có khoảng 1.450 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh, thành và tập trung đông đúc nhất là ở khu vực đồng bằng sông Hồng, trong đó tại các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%) đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề, tác động xấu tới chất lượng môi trường đất, nước, không khí và sức khỏe của người dân làng nghề.

Tình trạng ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại các giống, loài, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người là cái giá phải trả cho sự phát triển thương mại trong bối cảnh tự do hóa thương mại được tiến hành chỉ trong vòng 10 năm trở lại đây ở nước ta.

3 - Các giải pháp nhằm điều hòa cân bằng giữa tự do hóa thương mại và bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta chí ít cần bao gồm:

Mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, thương mại và bảo vệ môi trường cần phải tìm được lời giải hợp lý với một lộ trình hội nhập khoa học. Nếu không, nước ta khó tránh khỏi trở thành nơi sản xuất gây nhiều ô nhiễm và là một thị trường tiêu thụ những sản phẩm chất lượng thấp, máy móc, thiết bị công nghệ lạc hậu, dẫn tới những hậu quả khôn lường về môi trường sinh thái.

Một là, sửa đổi, bổ sung các pháp luật có liên quan. Để không tiếp tục bỏ lọt tội phạm trong lĩnh vực môi trường, đòi hỏi phải chấm dứt tình trạng thiếu đồng bộ giữa pháp luật hành chính và pháp luật hình sự, thay đổi quan niệm về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự và bổ sung các quy định cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự của pháp nhân, khắc phục xu hướng coi trọng các kết quả tăng trưởng hơn tính bền vững của sự phát triển kinh tế - xã hội.

Hai là, hoàn thiện chính sách, cơ chế. Nhanh chóng cấu trúc lại thị trường, chú trọng trước hết mối quan hệ giữa thị trường nội địa và thị trường quốc tế đồng thời với việc tái cấu trúc thể chế kinh tế, trong đó đặc biệt quan trọng là chính sách ngoại thương. Theo đó, hệ thống chính sách và cơ chế quản lý của Nhà nước thời gian tới cần phải hướng đến những nội dung sau:

- Hợp nhất các mục tiêu môi trường vào công tác kế hoạch hóa của quốc gia, các ngành, các tỉnh, cũng như kế hoạch hóa phát triển các đô thị.

- Chuyển dần quản lý môi trường từ chủ yếu bằng các mệnh lệnh hành chính sang, về cơ bản, các biện pháp kinh tế. Quản lý bằng mệnh lệnh hành chính nên được áp dụng đối với những khu vực mà tình trạng ô nhiễm đã lên tới mức báo động.

- Sớm ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn các hành vi thương mại, tạo khuôn khổ pháp luật ổn định cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần hoạt động trong điều kiện cạnh tranh, kết hợp giải quyết tốt giữa yêu cầu tự do hóa thương mại với bảo vệ môi trường.

- Trước mắt chỉ cho phép xuất khẩu những mặt hàng có hàm lượng tinh chế cao, khuyến khích xuất khẩu những hàng hóa sử dụng các loại lâm sản thông dụng, có khả năng tái tạo nhanh, tiến đến hạn chế và cấm khai thác các lâm sản quý thuộc các khu vực rừng tự nhiên và chỉ được phép khai thác ở các khu vực tái tạo và trồng mới.

- Khuyến khích nhập khẩu máy móc, thiết bị có công nghệ tiên tiến (kết hợp xem xét với yêu cầu của công nghệ xanh). Hạn chế nhập khẩu thiết bị, công nghệ trung gian, nhằm ngăn chặn dòng thiết bị - công nghệ cũ và lạc hậu nhập vào nước ta.

- Hạn chế số lượng, nâng mức thuế nhập khẩu lên cao, tiến đến thử nghiệm đấu giá các giấy phép nhập khẩu đối với những hàng hóa gây ảnh hưởng đến môi trường sinh thái. Đây là chính sách cần thiết có tác động điều chỉnh trực tiếp đối với các sản phẩm gây hại đến môi trường, phát thải các chất gây "hiệu ứng nhà kính", làm thủng tầng ô-zôn (như ô tô 4 chỗ ngồi, các hóa chất có gốc CFC...)

Không thể có kinh tế thị trường nếu không tiến hành tự do hóa thương mại. Trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không chịu sự tác động của những quan hệ mang tính tổng hợp, khu vực và toàn cầu. Trong bối cảnh ấy việc sửa đổi, bổ sung các pháp luật có liên quan, hoàn thiện và hòa hợp các chính sách, cơ chế nhằm thúc đẩy tự do hóa thương mại với bảo vệ môi trường sẽ làm một giải pháp hữu hiệu để bảo đảm sự tăng trưởng và phát triển một cách bền vững./.

Kiều Nguyễn Việt Hà Doãn Công Khánh

Video