Thứ Ba, 23/7/2019
Một số vấn đề của kinh tế thế giới và Việt Nam năm 2010 - Dự báo và giải pháp
5/7/2010 8:14' Gửi bài này In bài này

TCCS - Kinh tế thế giới bước vào những tháng đầu năm 2010 với nhiều rủi ro, biến động do ảnh hưởng rơi rớt lại từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái kinh tế thế giới 2007 - 2009. Điều này đã tác động và làm sâu sắc thêm những khó khăn của kinh tế Việt Nam, dẫn đến trong quá trình hồi phục và tăng trưởng đã bắt đầu le lói nguy cơ của một số bất ổn kinh tế vĩ mô. Bài toán lựa chọn giữa tăng trưởng cao với ổn định cân đối kinh tế vĩ mô vẫn được đặt ra trong những tháng còn lại của năm 2010, năm cuối cùng để có thể hoàn thành các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010.

1 - Tình hình kinh tế thế giới những tháng đầu năm 2010

Vượt qua năm 2009 đầy khó khăn, kinh tế thế giới bước vào năm 2010 với nhiều mảng sáng.

Kinh tế tại nhiều quốc gia đạt mức tăng trưởng khả quan, thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của thế giới. Tại Mỹ, GDP quý I tăng hơn 2% (quý thứ 3 tăng liên tiếp); châu á là khu vực có tốc độ tăng trưởng mạnh và được đánh giá là động lực phục hồi kinh tế thế giới, trong đó Trung Quốc vẫn dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng, GDP quý I tăng gần 12% (mức tăng nhanh nhất trong gần 3 năm trở lại đây). Kinh tế Nhật Bản đang phục hồi tích cực do nhu cầu tiêu dùng thế giới phục hồi đã kích thích hoạt động sản xuất, xuất khẩu tăng trở lại; các nước khu vực ASEAN duy trì được tốc độ tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Thị trường tài chính - tiền tệ vốn chịu tác động đầu tiên và mạnh mẽ nhất bởi cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế đã có những tín hiệu khả quan.

Nhiều ngân hàng đạt mức lợi nhuận tích cực trong những tháng đầu năm 2010 và đang trong quá trình trả lại tiền cứu trợ của chính phủ. Hệ thống tài chính tại các nền kinh tế lớn vẫn khá ổn định, làm động lực cho sự tăng trưởng trở lại của kinh tế thế giới. Thị trường chứng khoán cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ (các chỉ số chứng khoán của Mỹ, EU, Nhật Bản đều tăng 30% - 60% so với mức thấp nhất khi khủng hoảng nổ ra, trong đó, tăng trưởng mạnh nhất là nhóm các cổ phiếu ngành ngân hàng - tài chính).

Dưới sự hỗ trợ của các gói kích thích kinh tế khổng lồ, khu vực sản xuất của nền kinh tế thế giới cũng đã dần trở lại quỹ đạo tăng trưởng, dẫn dắt sự phục hồi kinh tế của nhiều quốc gia.

Đơn đặt hàng công nghiệp tại Mỹ trong những tháng đầu năm tăng trên 3%. Sản xuất công nghiệp của Trung Quốc tiếp tục mở rộng và duy trì mức tăng trưởng cao (chỉ số sản xuất công nghiệp (PMI) tháng 3-2010 tăng nhanh hơn dự báo, lên mức 55,1% so với mức 52% tháng trước đó). Lĩnh vực sản xuất và chế tạo của khu vực sử dụng đồng ơ-rô và Anh cũng đã tăng trong tháng 3-2010, PMI tăng tương ứng lên mức 56,6% và 57,2% từ mức 56% tháng trước đó. Tăng trưởng khu vực chế tạo của ấn #ộ, Nga cũng đạt tốc độ nhanh nhất trong 18 tháng qua. ố-xtrây-li-a có những dấu hiệu cải thiện trong lĩnh vực sản xuất, với lượng đơn đặt hàng tăng đáng kể trong những tháng đầu năm.

Trong lĩnh vực thương mại, sau khi đã giảm tới 12% trong năm 2009, mức giảm cao nhất trong lịch sử, thương mại thế giới, nay đã có những tăng trưởng khả quan. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) dự báo, xuất khẩu của các nền kinh tế phát triển sẽ tăng trưởng 7,5% trong năm nay, so với mức tăng 11% được dự báo cho nhóm nước còn lại.

Trong lĩnh vực đầu tư, hoạt động đầu tư nội địa của các nước vẫn tiếp tục được đẩy mạnh theo các gói kích thích kinh tế đã được chính phủ các nước đưa ra trong năm 2009. Hoạt động đầu tư mặc dù vẫn chịu tác động tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng cũng đã có những tín hiệu tích cực. Các hoạt động mua bán và sáp nhập diễn ra sôi động trong quý I với giá trị 573,3 tỉ USD, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó các hoạt động liên quan tới thị trường mới nổi chiếm hơn 33%. Các hoạt động đầu tư vào thị trường tài chính cũng tăng mạnh, đầu tư vào thị trường vốn lên tới 167,5 tỉ USD trong quý I, tăng 138% so với cùng kỳ năm 2009.

Tuy nhiên, trong bức tranh có nhiều khởi sắc của kinh tế thế giới vẫn tồn tại đâu đó những “điểm tối” có sức lan tỏa rộng rãi:

Vấn đề cấp bách nhất hậu khủng hoảng với nhiều quốc gia là tình trạng thâm hụt ngân sách và nợ công tăng cao do những gói kích thích kinh tế khổng lồ. Mức nợ công của Hy Lạp, thành viên EU, đã lên tới 300 tỉ ơ-rô (113% GDP) và thâm hụt ngân sách dự báo là 13% GDP (cao gấp bốn lần so với quy định của EU) khiến nước này đã buộc phải kêu gọi sự giúp đỡ của EU và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF). Nhiều quốc gia châu Âu khác cũng đang lâm vào tình trạng báo động cao khi mức nợ đều chiếm khoảng 90% - 100% GDP như I-ta-li-a, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha... Nợ công của Mỹ lên tới 12,5 ngàn tỉ USD (hơn 90% GDP) và Chính phủ nước này phải đề nghị Quốc hội nâng nợ trần quốc gia lên 14,3 ngàn tỉ USD (thêm 1,9 ngàn tỉ USD). Tỷ lệ nợ trên GDP của Nhật Bản hiện là 100% và có thể tăng lên 115% trong hai năm tới. Đặc biệt, IMF đã đưa ra cảnh báo tổng nợ chính phủ của các nước G7 (trừ Đức và Ca-na-đa) sẽ tăng từ mức 75% GDP cuối năm 2007 lên 110% GDP vào thời điểm cuối năm 2014.

Cạnh tranh thương mại và bảo hộ mậu dịch có xu hướng gia tăng, nhất là tranh chấp thương mại giữa Mỹ, EU, Trung Quốc…

Việc áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và trừng phạt thương mại đã trở thành biện pháp tự vệ phổ biến của Mỹ, EU đối với những đối thủ cạnh tranh (Mỹ áp thuế chống phá giá đối với muối ka-li, giấy, gạch của Trung Quốc; EU kéo dài thêm 15 tháng thuế chống phá giá đối với giày da Trung Quốc...). Hiện tại, cả thế giới đang đổ dồn sự quan tâm vào cuộc tranh cãi giữa hai nước lớn, cũng là hai đối tác thương mại lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc xung quanh vấn đề tỷ giá NDT/USD. Cuộc tranh cãi về tỷ giá đồng NDT kéo dài dai dẳng giữa hai nước trong suốt thập niên qua đã buộc Trung Quốc phải giảm dần tỷ giá của mình từ mức 8,28 NDT/USD trước tháng 7-2005 xuống mức 6,82 NDT/USD hiện nay (tăng 18%). Tuy nhiên, nắm quyền hiện nay tại Mỹ là Đảng Dân chủ, vốn thường có chính sách ưu tiên bảo hộ với các ngành sản xuất trong nước, cùng với tham vọng tăng gấp đôi xuất khẩu của Mỹ trong vòng 5 năm tới (theo Sáng kiến xuất khẩu quốc gia), nước Mỹ đang nỗ lực áp dụng các chính sách và kêu gọi cộng đồng quốc tế gây sức ép buộc Trung Quốc phải tăng giá đồng NDT. Căng thẳng ngày càng leo thang khi Mỹ đe dọa sẽ áp dụng các biện pháp trừng phạt, như tăng thuế đối với hàng hóa Trung Quốc, thậm chí Mỹ có thể thông qua dự luật coi Trung Quốc là quốc gia thao túng tiền tệ, nếu Trung Quốc không tăng tỷ giá đồng NDT.

Nhiều chỉ số kinh tế vĩ mô chưa được cải thiện. Tỷ lệ thất nghiệp trên toàn thế giới vẫn ở mức cao. Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ ở mức 9,7% còn ở châu Âu là 10% (lần đầu tiên đạt mức hai con số). Thị trường tài chính - tiền tệ thế giới vẫn còn tiềm ẩn nhiều bất ổn. Từ đầu năm tới nay khoảng 40 ngân hàng tại Mỹ đã phá sản, có những ngày có tới 4 ngân hàng đồng loạt phá sản. Niềm tin doanh nghiệp còn thấp và chưa ổn định, các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, khó khăn về vốn và tiêu thụ sản phẩm nên chưa tập trung đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh. Nguy cơ tái lạm phát và “bong bóng” tài sản tại nhiều nước, nhất là tại các nước châu á (Trung Quốc, ấn Độ, Phi-lip-pin, Hàn Quốc...) đe dọa sự hồi phục vững chắc của kinh tế thế giới.

2 - Dự báo về triển vọng sắp tới của nền kinh tế thế giới

Với những tín hiệu tương đối khả quan từ những tháng đầu năm, dự báo kinh tế thế giới sẽ đạt mức tăng trưởng khả quan trong năm nay, nhưng chưa thể đạt được mức so với trước khủng hoảng. Trong dự báo mới nhất của IMF, kinh tế thế giới năm 2010 sẽ tăng trưởng 3,9%, cao hơn nhiều so với mức 1,1% của năm 2009. Mức tăng trưởng này, theo dự báo của Liên hợp quốc, là 2,4%. Tăng trưởng kinh tế năm 2010 của Mỹ dự kiến đạt 2,5% trong khi châu Âu sẽ thoát khỏi suy thoái với mức tăng trưởng dự kiến 0,9%. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương vẫn tiếp tục dẫn đầu thế giới về phục hồi kinh tế với dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình 6,3% trong năm 2010 (trong đó nhóm các nước đang phát triển tăng tới 8,7% và Trung Quốc có thể tăng trưởng ở mức hai con số).

Các dự báo về kinh tế toàn cầu cho thấy khủng hoảng tài chính đã bước đầu được kiểm soát, kinh tế thế giới đã từng bước phục hồi; tuy nhiên còn quá nhiều yếu tố tiêu cực để kinh tế thế giới có thể phục hồi nhanh.

Các nước bắt đầu tiến hành điều chỉnh chính sách kinh tế, từ tập trung ngăn chặn suy giảm kinh tế sang ổn định và thúc đẩy tăng trưởng, nhưng theo 02 nhóm nước: Nhóm thứ nhất vẫn tiếp tục duy trì chính sách nới lỏng tiền tệ, duy trì lãi suất thấp để kích thích kinh tế. Mỹ tiến hành cải cách hệ thống ngân hàng, ổn định thị trường bất động sản; chú ý hơn đến các biện pháp hỗ trợ an sinh xã hội (thông qua dự luật kích thích việc làm trị giá 15 tỉ USD, bơm thêm 20 tỉ USD mở rộng các dự án xây dựng trường học); Các nước EU tập trung các giải pháp đối phó khủng hoảng nợ và thâm hụt ngân sách; Nhật Bản tăng cường các biện pháp kích thích kinh tế (giữ nguyên lãi suất ở mức thấp, cấp vốn cho các ngân hàng thương mại lên gấp đôi). Tuy nhiên, các nước sẽ không còn nhiều công cụ để kích thích kinh tế vì đang thâm hụt ngân sách lớn, lãi suất đã ở mức rất thấp, một số nước đang phải đối mặt với nguy cơ lạm phát; Nhóm thứ hai lại đang từng bước rút dần các biện pháp kích thích kinh tế để duy trì mức tăng trưởng hợp lý, tránh các nguy cơ bất ổn vĩ mô; từng bước thắt chặt chính sách tiền tệ để tránh nguy cơ lạm phát và bong bóng tài sản. Trung Quốc dần thắt lại tín dụng (đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức vừa phải 8%; nâng mức dự trữ tối thiểu bắt buộc đối với các ngân hàng lớn từ 14,5% lên 15%; tăng lãi suất trái phiếu chính phủ); Hàn Quốc siết chặt các quy định về tiền tệ, đặc biệt là các giao dịch liên quan đến tiền mặt nhằm tăng cường tính minh bạch của thị trường; ấn Độ dừng các biện pháp kích cầu và tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc thêm 0,75%; từ cuối năm 2009 đến nay, Ngân hàng Trung ương Ố-xtrây-li-a đã nâng lãi suất cơ bản 4 lần (hiện là 4%)...

3 - Tình hình kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2010

Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục ổn định và duy trì đà tăng trưởng.

Kinh tế tăng trưởng khá, GDP quý I năm 2010 tăng 5,83% (mức tăng của cả năm 2009 là 5,32% và năm 1999 - năm bắt đầu tăng trưởng sau khi chịu tác động từ khủng hoảng tài chính trong khu vực - là 4,77%). Hoạt động sản xuất khởi sắc rõ nét; sản xuất công nghiệp những tháng đầu năm 2010 đã lấy lại mức tăng của năm 2008 (13,6% so với 7,6% trong năm 2009). Thị trường tài chính tiền tệ được cải thiện rõ nét sau khi Chính phủ có những điều chỉnh chính sách kịp thời, giúp cho việc thanh khoản VND trong hệ thống ngân hàng bớt căng thẳng; lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm mạnh; cân đối cung cầu trên thị trường ngoại hối được bảo đảm (chênh lệch giữa tỷ giá trong ngân hàng và tỷ giá giao dịch ngoài thị trường tự do thời điểm tháng 12-2009 là trên 1.000 VND/1USD thì đến tháng 4-2010 hầu như đã không còn; cuối tháng 4-2010 có lúc giá tự do USD còn thấp hơn trong ngân hàng). Nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài vào trong nước tăng khá, đến từ lượng giải ngân FDI (đạt 2,5 tỉ USD, tăng 13,6% so với cùng kỳ 2009) và lượng kiều hối về nước (địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh tăng gần 18%). Đà suy giảm xuất khẩu đã chậm lại và đang trong xu hướng tăng mạnh trở lại (kim ngạch xuất khẩu quý I-2010 chỉ giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, so với mức giảm 9,7% năm 2009). Thị trường nội địa khởi sắc (tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ toàn xã hội quý I đã tăng hơn 24%, so với mức tăng 18,6% của năm 2009). Hoạt động thu hút khách du lịch đã có những tín hiệu tích cực, lượng khách du lịch quốc tế tới Việt Nam những tháng đầu năm tăng hơn 36% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, kinh tế thế giới hồi phục chậm và chưa vững chắc đã tác động trực tiếp, tiêu cực đến kinh tế nước ta do Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào thế giới và khu vực.

Hoạt động kinh tế đối ngoại tiếp tục gặp khó khăn, nhất là lĩnh vực thương mại. Thâm hụt cán cân thương mại tiếp tục duy trì ở mức cao đang gây sức ép giảm giá VND và đe dọa vị thế thanh toán quốc tế của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu giảm 1,6% so với cùng kỳ, chủ yếu do tổng cầu trên thị trường quốc tế giảm và xuất khẩu dầu thô giảm (do dành một phần cho nhà máy lọc dầu Dung Quất), trong khi nhập khẩu tăng mạnh (37,6%) đã khiến cho nhập siêu trong quý I lên tới 3,5 tỉ USD, chiếm tới 25% kim ngạch xuất khẩu, vượt quá chỉ tiêu khống chế dưới 20% kim ngạch xuất khẩu mà Quốc hội đã đề ra. Trong khi đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký suy giảm (về vốn và số dự án đều giảm 40% so với cùng kỳ năm trước) và giải ngân vốn ODA trong quý I chỉ đạt khoảng 8,5% so với kế hoạch giải ngân của cả năm 2010. Đầu quý II-2010 tình hình có được cải thiện hơn quý I. Xuất khẩu lao động cũng giảm tới 23% so với cùng kỳ năm 2009.

Lĩnh vực tài chính - tiền tệ còn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Đặc biệt là nguy cơ lạm phát quay trở lại do giá các nguyên liệu đầu vào ở cả thị trường quốc tế và thị trường trong nước đều tăng, Nhà nước tăng giá một số mặt hàng thiết yếu, chiến lược theo lộ trình giá thị trường, tăng lương cơ bản, nới tỷ giá VND/USD, thâm hụt dự trữ ngoại tệ... CPI quý I tăng 4,25% và có thể sẽ vượt mục tiêu phấn đấu dưới 7%. Trên thị trường tiền tệ, tình trạng hai giá trên thị trường ngoại hối (trong ngân hàng và ngoài thị trường tự do) đã gây khó khăn cho công tác điều hành chính sách tiền tệ, nhất là trong những thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn. Bên cạnh đó, thanh khoản trong hệ thống ngân hàng vẫn khó khăn, cả về huy động vốn và (nhất là) hoạt động cho vay (do thiếu vốn và phải huy động với chi phí cao để duy trì thanh khoản).

Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn về vốn, do không tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng hoặc phải vay với lãi suất quá cao, đồng thời gặp khó khăn về đầu ra cho sản phẩm khi nền kinh tế của các đối tác lớn (Mỹ, EU, Nhật Bản) chưa phục hồi vững chắc. Doanh nghiệp sản xuất đang chịu mức chi phí đầu vào tăng cao hơn tốc độ tăng giá bán ra (cụ thể, chỉ số giá tiêu dùng CPI quý I tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2009, trong khi chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 11,6%, công nghiệp tăng 9,4%). Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh và huy động vốn nên chậm điều chỉnh tiền lương, tiền thưởng cho người lao động, vi phạm quyền của người lao động như bảo hiểm xã hội, tăng ca, giãn ca... dẫn đến tình trạng đình công tại các khu công nghiệp, khu chế xuất bùng phát trở lại (nhất là tại khu vực phía Nam nơi có nhiều doanh nghiệp FDI của Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản).

Dự báo trong những tháng tới, mặc dù kinh tế Việt Nam tiếp tục gặp nhiều khó khăn do tác động từ sự phục hồi chậm, chưa ổn định của kinh tế thế giới và nội tại của nền kinh tế đang chuyển đổi, nhưng có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng 6,5%. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu tăng trưởng này trong điều kiện bảo đảm mức lạm phát dưới 7% là rất khó khăn, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, các cấp, các ngành và các doanh nghiệp phải nỗ lực phấn đấu trong khả năng cao nhất. Mặt khác, sự tăng trưởng còn phụ thuộc vào những biến động của kinh tế thế giới thời kỳ “hậu khủng hoảng”, do vậy thời gian tới, kinh tế Việt Nam tiếp tục đối mặt với một số khó khăn, thách thức: (1) Lạm phát sẽ là yếu tố đáng quan tâm nhất trong mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô năm nay do chịu áp lực đồng loạt từ các yếu tố tiền tệ, cầu kéo và chi phí đẩy; (2) Tình trạng nhập siêu vẫn là thách thức lớn đe dọa sự ổn định và tăng trưởng bền vững của nền kinh tế; (3) Thu hút vốn nước ngoài từ nguồn vốn FDI còn nhiều khó khăn do kinh tế thế giới chưa thể phục hồi nhanh và còn nhiều diễn biến phức tạp trên thị trường vốn quốc tế; (4) Dự trữ ngoại tệ và thị trường ngoại hối sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng từ những biến động phức tạp của đồng USD trên thị trường quốc tế, trong khi nguồn thu ngoại tệ từ hoạt động du lịch, kiều hối và xuất khẩu lao động chưa thể tăng mạnh; (5) Hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp còn gặp khó khăn về chi phí đầu vào (giá các mặt hàng điện, nước, than, xăng dầu đều tăng và nhất là chi phí vốn do lãi suất tín dụng ở mức cao) trong khi đầu ra gặp khó khăn, nhất là hoạt động xuất khẩu (do tổng cầu thế giới chưa sớm quay lại như thời kỳ trước khủng hoảng); (6) Những bất cập trong cơ cấu kinh tế Việt Nam (phụ thuộc nhiều vào thị trường và vốn bên ngoài, xuất khẩu nguyên liệu thô chiếm tỷ trọng lớn, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu, công nghệ lạc hậu, tiêu tốn năng lượng, thiếu lực lượng lao động có tay nghề cao) và hiệu quả đầu tư công chưa được cải thiện rõ rệt (chỉ số ICOR cao) sẽ tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực tới sự ổn định và tăng trưởng bền vững của kinh tế Việt Nam trong trung và dài hạn.

4 - Một số vấn đề trọng tâm cần được lưu ý trong điều hành vĩ mô và tổ chức thực hiện trong những tháng còn lại của năm 2010

1 - Về nhận thức tình hình: Đây là giai đoạn hết sức nhạy cảm, vì một mặt, nền kinh tế bước đầu đã có dấu hiệu hồi phục rất cần đến các chính sách hỗ trợ nhằm bảo đảm cho sự phát triển vững chắc; mặt khác lại phải bảo đảm một môi trường vĩ mô ổn định (về lạm phát, thâm hụt ngân sách, cán cân thương mại, nợ nước ngoài, kết cấu hạ tầng, giáo dục, y tế, nguồn nhân lực...). Cần theo dõi sát và đánh giá, dự báo đúng tình hình trong nước, ngoài nước để từ đó hoạch định chính sách trên cơ sở cân đối giữa mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng kinh tế.

2 - Về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo: (a) Định hướng điều hành kinh tế vĩ mô và một số điều chỉnh chính sách cụ thể trong thời gian qua của Chính phủ là đúng hướng, phù hợp với tình hình, đã đem lại những kết quả quan trọng, tạo tiền đề tăng trưởng và ổn định vĩ mô cho những tháng tiếp theo của năm 2010. Vấn đề cần nhấn mạnh thời gian tới là thời điểm, cách thức và liều lượng của các bước đi trong thực thi các chính sách như thế nào cho phù hợp với diễn biến tình hình thực tế tại từng thời điểm; (b) Các bộ, ngành phối hợp đồng bộ, tuân thủ sự chỉ đạo, điều hành thống nhất của Chính phủ. Trong quá trình điều hành, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận xã hội, thống nhất giữa các chủ thể của nền kinh tế trên cơ sở đặt lợi ích quốc gia, dân tộc làm trung tâm; (c) Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng cần coi trọng quan điểm tự lực, tự cường, dựa vào nội lực là chính. Đây là bài học rút ra trong giai đoạn suy thoái kinh tế vừa qua, đồng thời khai thác tối đa những thời cơ thuận lợi của thế giới để phát triển kinh tế; (d) Giữ vững nguyên tắc quản lý kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, tăng cường vai trò của Nhà nước thông qua các tập đoàn kinh tế nhà nước để làm công cụ can thiệp, bình ổn thị trường, trong trường hợp cần thiết bảo đảm thị trường phát triển đúng định hướng.

3 - Trọng tâm trong điều hành một số chính sách kinh tế vĩ mô:

- Đối với chính sách tiền tệ: Định hướng ưu tiên là tập trung bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, trong đó đặc biệt chú ý đến nguy cơ lạm phát. Đồng thời tranh thủ những thời cơ thuận lợi của giai đoạn “hậu khủng hoảng” của kinh tế thế giới, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế để phục vụ tăng trưởng, nhất là thanh khoản vốn tín dụng. Do vậy, cần thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng nhưng linh hoạt; không nghiêng hẳn sang chiều nào, (thắt chặt hay nới lỏng), trong đó chú trọng công tác điều hành đồng bộ chính sách ngoại hối và chính sách lãi suất, kích thích sử dụng đồng tiền trong nước trong lưu thông, hạn chế tình trạng đô-la hóa nền kinh tế.

- Đối với chính sách tài khóa: Tập trung tìm mọi cách nâng cao chất lượng, bảo đảm kỷ luật, tiết kiệm, hiệu quả trong chi tiêu công, không đầu tư tràn lan, lãng phí. Siết lại chính sách tài khóa, đồng thời cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải cách hành chính. Linh hoạt sử dụng chính sách thuế để khuyến khích sản xuất trong nước.

- Đối với chính sách thương mại: Tập trung các biện pháp để giảm nhập siêu, trong đó kết hợp đồng bộ các biện pháp thương mại (hạn chế nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ, không thiết yếu, áp dụng hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu, ưu tiên các mặt hàng có giá trị gia tăng cao...) với các biện pháp về công nghiệp (đẩy mạnh công tác quy hoạch, xây dựng hành lang pháp lý và khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ) và biện pháp thông tin tuyên truyền (khuyến khích dùng hàng Việt Nam, tăng cường xúc tiến thương mại tại các thị trường lớn, tổ chức các hội chợ hàng tiêu dùng tại thị trường các nước láng giềng và trong khu vực...).

- Đối với thu hút nguồn vốn nước ngoài: Tập trung tháo gỡ vướng mắc về thủ tục cấp phép đầu tư và tạo điều kiện thúc đẩy tiến độ giải ngân các dự án, nhất là dự án ODA, trong đó tiếp tục nghiên cứu thực hiện chương trình hợp tác công tư (PPP Public - Private Partnership) trong thực hiện các dự án ODA. Giám sát, quản lý hiệu quả các dòng vốn đầu tư gián tiếp vào - ra, đặc biệt là các luồng vốn “nóng”. Tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi thông tin, kinh nghiệm, hỗ trợ vốn, kỹ thuật của các nước và các tổ chức tài chính quốc tế để có biện pháp thu hút vốn từ bên ngoài trong giai đoạn “hậu khủng hoảng”.

- Ổn định và thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh: Tập trung nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính của các tập đoàn kinh tế nhà nước, tham gia bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, dịch vụ, góp phần không làm tăng giá cả chung; rà soát lại hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh đầu tư dàn trải, đẩy nhanh việc thực hiện các dự án đầu tư sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu có chất lượng để sớm đi vào sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường. Đối với các doanh nghiệp, nhất là khối doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần tập trung tháo gỡ khó khăn về huy động vốn; nghiên cứu nới lỏng các điều kiện tín dụng và hạ mặt bằng lãi suất tín dụng để khơi thông dòng vốn tới hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả.

- Chú trọng bảo đảm an sinh xã hội: Tiếp tục ưu tiên đẩy mạnh việc thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia đã ban hành liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo, cải thiện thu nhập của người lao động, tăng cường đầu tư y tế, giáo dục hướng đến người nghèo.

- Tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra để kịp thời phát hiện các tiêu cực, vi phạm pháp luật, nhất là liên quan đến công tác điều hành ổn định kinh tế vĩ mô; kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí đi đôi với cải cách hành chính và nâng cao kỷ luật trong hoạt động điều hành, chấp hành.

- Công tác thông tin tuyên truyền: Nâng cao chất lượng công tác thông tin kinh tế vĩ mô, thông tin có phân tích, cung cấp kịp thời và đầy đủ cho báo chí để tránh bị dư luận phân tích theo nhiều hướng khác nhau. Phản biện kịp thời và xử lý những đối tượng tung tin đồn thất thiệt hoặc xuyên tạc tình hình. Chủ động tấn công vô hiệu hóa, ngăn chặn, đấu tranh cương quyết với nguồn thông tin có tính chất phản động, kích động và gây tâm lý hoang mang, hoài nghi đối với hoạt động điều hành của Chính phủ./.

Phạm Minh Chính

Video