Thứ Tư, 24/10/2018
Một số vấn đề cơ bản về công tác đối ngoại quốc phòng của Việt Nam hiện nay
13/6/2018 23:4' Gửi bài này In bài này
Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh phát biểu tại hội nghị trực tuyến Tổng kết công tác đối ngoại quốc phòng năm 2017 - Nguồn: tapchiqptd.vn

Công tác đối ngoại quốc phòng là tổng thể các hoạt động bằng biện pháp hòa bình nhằm góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước. Đối ngoại quốc phòng không chỉ là công tác ngoại giao đơn thuần của Bộ Quốc phòng, mà còn bao gồm các hoạt động ngoại giao trong lĩnh vực quốc phòng giữa nước ta và các nước, các tổ chức quốc tế, liên quan đến độc lập, chủ quyền, lợi ích của quốc gia và an ninh, hòa bình của khu vực, thế giới. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khái quát, công tác đối ngoại quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc “Không chỉ là ngoại giao đơn thuần mà thông qua hoạt động đối ngoại để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa...”(1). Như vậy, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là mục đích, đặc trưng của công tác đối ngoại quốc phòng Việt Nam.

Kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao, quán triệt đường lối đối ngoại của Đảng, công tác đối ngoại quốc phòng đã đề ra và thực hiện có hiệu quả các quan điểm, nguyên tắc đối ngoại trong lĩnh vực quốc phòng phù hợp với tình hình mới, cụ thể như sau:

Quan điểm cơ bản của công tác đối ngoại quốc phòng là quán triệt và tổ chức thực hiện đúng đắn, linh hoạt, sáng tạo đường lối, chủ trương đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ đối ngoại của Đảng; thực hiện hội nhập quốc tế, đưa công tác đối ngoại quốc phòng cả song phương và đa phương đi vào chiều sâu, ổn định, vững chắc, thiết thực. Đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng rộng khắp, có trọng điểm; ưu tiên quan hệ đối ngoại quốc phòng với các nước láng giềng, coi trọng quan hệ với các nước ASEAN, củng cố, phát triển quan hệ với các nước lớn, tăng cường quan hệ với các nước bạn bè truyền thống và các nước đang phát triển. Đối ngoại quốc phòng gắn kết chặt chẽ và tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập quốc tế cũng như đối ngoại trên các lĩnh vực khác, tạo thành một thể thống nhất trong chiến lược đối ngoại của quốc gia; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cả hệ thống chính trị, khai thác có hiệu quả vị thế quốc tế của đất nước, Quân đội, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài, góp phần thực hiện tốt chủ trương Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Đối ngoại quốc phòng quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người khai sinh ra nền đối ngoại Việt Nam - về mối quan hệ giữa sức mạnh ngoại giao và thực lực đất nước: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn”(2) và quan điểm của Đảng về vai trò của nội lực trong quan hệ với các nước lớn: “Chú ý rằng: Ta có mạnh thì họ mới chịu “đếm xỉa đến”. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dầu là kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy”(3). Thực lực được tạo thành bởi tiềm lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh... Trong xu thế hội nhập quốc tế, thực lực còn là thiện chí, trách nhiệm, sự đóng góp của Việt Nam cho các tổ chức quốc tế vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới. Từ nhận thức đó, công tác đối ngoại quốc phòng Việt Nam đã giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa đối ngoại với thực lực đất nước. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chiến thắng quân sự trên chiến trường miền Nam và chiến dịch quyết chiến chiến lược “Điện Biên Phủ trên không” ở Hà Nội vào tháng 12-1972 đã buộc đế quốc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán, ký kết Hiệp định Pa-ri, chấp nhận rút quân vô điều kiện ra khỏi Việt Nam là một minh chứng sinh động.

Nguyên tắc cơ bản của công tác đối ngoại quốc phòng là giữ vững chủ quyền, môi trường hòa bình, bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc; tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc và các quy tắc ứng xử của khu vực trong giải quyết các vấn đề tồn tại về lãnh thổ, biên giới trên bộ, trên biển... với các nước liên quan. Lợi ích quốc gia - dân tộc có nhiều nội dung với thứ tự ưu tiên khác nhau, gồm: nhóm lợi ích sống còn (độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, hòa bình, an ninh quốc gia...) và nhóm lợi ích phát triển (môi trường, điều kiện phát triển đất nước, vị thế quốc gia trên trường quốc tế...). Hiện nay, các nước đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên hàng đầu, và do vậy, có thể nảy sinh những bất đồng, sự khác biệt về lợi ích trong quan hệ quốc tế. Chúng ta cần nhận thức đúng đắn và xử lý linh hoạt, phù hợp vấn đề lợi ích quốc gia - dân tộc theo nguyên tắc: thỏa đáng giữa lợi ích sống còn và lợi ích phát triển, trước mắt và lâu dài, điểm và diện, hài hòa với xu thế chung, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế. Đối ngoại quốc phòng tuân thủ đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước: không tham gia liên minh quân sự, không đi với nước này chống lại nước khác, không cho phép nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam; đồng thời, xây dựng, củng cố quan hệ, xây dựng lòng tin, tạo thế cân bằng chiến lược, đan xen lợi ích với các đối tác, nhất là với đối tác chiến lược, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế rộng rãi, tăng cường khả năng ngăn ngừa nguy cơ và đối phó có hiệu quả với các tình huống quốc phòng, chiến tranh.

Phương châm cơ bản của công tác đối ngoại quốc phòng là “Dĩ bất biến ứng vạn biến”. Cái “bất biến” là lợi ích quốc gia - dân tộc, độc lập, tự chủ, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, để ứng phó với các diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình và quan hệ quốc tế. Trong quá trình triển khai các hoạt động đối ngoại quốc phòng, phải tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt và hiệu quả; không để rơi vào thế bị động, bất ngờ. Đối ngoại quốc phòng Việt Nam là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, lấy hợp tác làm nền tảng, đấu tranh bằng biện pháp phi vũ trang. Hợp tác quốc tế là xu thế thời đại và cũng là truyền thống, nhu cầu của Việt Nam. Hợp tác để khai thác, phát huy cao nhất mặt đồng thuận và đấu tranh để hạn chế, giải quyết bất đồng, mâu thuẫn là sự quán triệt, cụ thể hóa quan điểm của Đảng về đối tác và đối tượng. Lĩnh vực, kênh đối ngoại nào cũng đều phải hợp tác và đấu tranh, nhưng hợp tác và đấu tranh quốc phòng là vấn đề phức tạp, khó khăn hơn bội phần vì nó liên quan trực tiếp đến độc lập, chủ quyền, lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, đến hòa bình và xung đột, chiến tranh. Hợp tác là cơ hội, cách thức để xây dựng lòng tin, thực hiện “cùng thắng, cùng có lợi”, tạo động lực hạn chế, hóa giải mâu thuẫn, đối đầu, kiềm chế xung đột. Khi còn hợp tác, có lòng tin chiến lược thì còn có khả năng ngăn ngừa nguy cơ xung đột vũ trang, chiến tranh. Lòng tin chiến lược phải được tạo dựng từ cả hai phía, bằng hành động thiết thực, làm cho đối tác thực sự tin ta và ta thực sự tin đối tác. Trong bối cảnh còn tồn tại mâu thuẫn lợi ích cốt lõi, tranh chấp chủ quyền diễn biến phức tạp, thì việc xây dựng lòng tin chiến lược là rất khó khăn. Nhưng càng khó khăn, phức tạp, thì đối ngoại nói chung, đối ngoại quốc phòng nói riêng càng phải nỗ lực, đi đầu. Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương “Gác lại quá khứ, hướng tới tương lai” không có nghĩa là quên tội ác chiến tranh, quên nỗi đau mà dân tộc, nhân dân ta phải gánh chịu, mà ngược lại, phải làm cho những kẻ gây ra tội ác nhớ và đừng bao giờ lặp lại sai lầm. Chúng ta không đánh đồng bọn hiếu chiến với nhân dân nước đó, không vì quá khứ mà từ chối hợp tác; thông qua hợp tác phát triển để các bên có điều kiện cùng nhau khắc phục hậu quả chiến tranh. Điều đó thể hiện tính nhân văn của Việt Nam, được thế giới thừa nhận và coi là một hình mẫu giải quyết các tồn đọng lịch sử. Đấu tranh phi vũ trang trong giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp chủ quyền biên giới, biển, đảo sẽ rất phức tạp, mất nhiều thời gian, nhưng là phương thức hiệu quả nhất, đỡ tổn thất nhất, nên phải kiên quyết, kiên trì, khôn khéo, linh hoạt và sáng tạo.

Quốc phòng là lĩnh vực nhạy cảm, liên quan đến bí mật quốc gia, sức mạnh quân sự, quốc phòng, nên đối ngoại quốc phòng cần cảnh giác, thường đi sau đối ngoại trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa... Nhưng khi thiết lập được quan hệ quốc phòng thì quan hệ giữa hai nước đã có sự tin cậy, có sự phát triển cao hơn. Trong thực tiễn, đối ngoại quốc phòng có thể trở thành hoạt động mang tính đột phá, tháo gỡ vướng mắc, tạo cơ sở cho việc thiết lập, duy trì và tăng cường quan hệ với các nước. Những năm đất nước bị bao vây, cấm vận, đối ngoại quốc phòng đã có nhiều đối sách, hoạt động mở đường cho việc bình thường hóa quan hệ với các nước lớn, tổ chức quốc tế, khu vực, góp phần quan trọng đưa quan hệ quốc tế của Việt Nam lên bước phát triển mới. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đối ngoại quốc phòng góp phần xử lý linh hoạt, phù hợp các tình huống phức tạp, nhạy cảm trên biên giới, biển, đảo, giữ vững hòa bình, duy trì quan hệ hữu nghị với các nước láng giềng, các nước lớn, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước.

Về phương thức hoạt động, đối ngoại quốc phòng vận dụng và kết hợp chặt chẽ cả phương thức song phương và đa phương. Đối ngoại quốc phòng song phương là phương thức chủ đạo nhằm đưa quan hệ quốc phòng với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất, ổn định và bền vững, góp phần tạo sự đồng thuận trong quan hệ đa phương ở khu vực, thế giới. Đối ngoại quốc phòng đa phương là phương thức chủ yếu để tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi, phát huy vai trò trên các diễn đàn an ninh khu vực, thế giới, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế, hỗ trợ giải quyết vướng mắc trong quan hệ song phương. Nội dung, hình thức đối ngoại, hợp tác quốc phòng ngày càng phong phú, đa dạng, hiệu quả, như đối ngoại chính sách quốc phòng, hợp tác đào tạo, khoa học - công nghệ, công nghiệp quốc phòng, thương mại quân sự... Giao lưu quốc phòng hữu nghị biên giới là một đặc thù, điểm sáng, hình thức có hiệu quả thiết thực để xây dựng, bảo vệ đường biên giới hòa bình, hữu nghị, góp phần tăng cường, củng cố quan hệ với các nước láng giềng. Đối ngoại quốc phòng đa phương có bước phát triển về chất với các hoạt động tiêu biểu, như tham gia Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN; hiện thực hóa ý tưởng hình thành Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng; tham gia ngày càng sâu hơn vào các diễn đàn của Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu và các hội nghị quốc phòng, an ninh khu vực, liên khu vực; tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc... Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng trong khuôn khổ đa phương góp phần tạo vị thế, vai trò mới cho Việt Nam trong việc định hình, dẫn dắt một số vấn đề chung của khu vực, thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với an ninh, hòa bình và ổn định của thế giới.

Về lực lượng tham gia, đối ngoại quốc phòng phát huy vai trò của lực lượng chuyên trách của Bộ Quốc phòng, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành ở Trung ương, địa phương và huy động sự tham gia rộng rãi của nhân dân bằng nhiều hình thức, biện pháp phù hợp. Trong 4 lần giao lưu quốc phòng hữu nghị biên giới với Trung Quốc, ngoài lực lượng bộ đội biên phòng và các cơ quan, đơn vị của Bộ Quốc phòng, quân khu, cấp ủy, chính quyền, các ngành và nhân dân địa phương đã tham gia rất tích cực, góp phần làm cho các hoạt động diễn ra an toàn, thành công, thiết thực và hiệu quả. Hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa các địa phương, đơn vị làm tăng thêm sự hiểu biết, tình đoàn kết, gắn bó giữa nhân dân khu vực biên giới hai nước, góp phần xây dựng, bảo vệ đường biên giới hòa bình, hữu nghị. Ngoài các cơ quan chuyên trách trực thuộc Bộ Quốc phòng, như Cục Đối ngoại, Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam, Viện Quan hệ quốc tế về quốc phòng..., mỗi cán bộ, chiến sĩ bộ đội biên phòng, hải quân, cảnh sát biển... trực tiếp làm nhiệm vụ trên tuyến biên giới, biển, đảo đều là những sứ giả, đại diện cho hình ảnh của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đối với bạn bè quốc tế.

Trong những năm qua, lý luận, nhận thức về đối ngoại quốc phòng đã chỉ đạo các hoạt động thực tiễn, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ đối ngoại, bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, từ thực tiễn, bổ sung, phát triển, làm phong phú lý luận về đối ngoại quốc phòng nói riêng, đối ngoại nói chung. Đây là tài sản vô giá cho chúng ta trong giai đoạn mới. Trong những năm tới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, cũng đứng trước những khó khăn, thách thức, đặt ra cho quân sự, quốc phòng, trong đó có đối ngoại quốc phòng những yêu cầu rất cao. Tình hình đó đòi hỏi phải tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển lý luận về đối ngoại quốc phòng Việt Nam, trong đó cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

Một là, tổ chức tốt công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nghị quyết liên quan đến hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng theo chương trình của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Quân ủy Trung ương. Trong đó, có sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 25-10-2013, của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” (phần đối ngoại quốc phòng); Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về hội nhập quốc tế”; và Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”... Việc sơ kết, tổng kết này phải bám chắc vào mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch hành động thực hiện các nghị quyết và bối cảnh quốc tế, trong nước; đánh giá một cách khách quan, toàn diện, thực chất kết quả thực hiện (cả định lượng và định tính); chỉ rõ những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, cũng như nguyên nhân chủ quan và khách quan của những tồn tại, hạn chế đó; phân tích một cách khoa học, rút ra các bài học kinh nghiệm và những vấn đề phát sinh, cần bổ sung, điều chỉnh trong thời gian tới. Xây dựng kế hoạch sơ kết, tổng kết chặt chẽ, thiết thực, trong đó có cả kế hoạch tổ chức ban chỉ đạo và cơ quan chủ trì việc sơ kết, tổng kết. Việc sơ kết, tổng kết phải được tiến hành cả trong các cơ quan, đơn vị chuyên trách, kiêm nhiệm và các lực lượng rộng rãi, trong và ngoài quân đội, trong nước và nước ngoài.

Hai là, tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, phát triển các vấn đề lý luận về đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới, nhất là về đối tác và đối tượng quốc phòng, lợi ích quốc gia - dân tộc, hợp tác và đấu tranh quốc phòng, quan hệ giữa đối ngoại quốc phòng với đối ngoại trên các lĩnh vực khác... Nghiên cứu làm rõ hơn đặc thù, sự đan xen, chuyển hóa giữa mặt đối tác và đối tượng quốc phòng; mặt đồng thuận cần tranh thủ hợp tác, liên kết và vấn đề cần cảnh giác, ngăn ngừa. Nhận thức rõ hơn về vai trò, mối quan hệ biện chứng giữa đối tượng quốc phòng bên trong và đối tượng quốc phòng bên ngoài; bảo đảm không mơ hồ, mất cảnh giác nhưng không ảnh hưởng đến quan hệ đối tác về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ... Nghiên cứu giải quyết thỏa đáng vấn đề lợi ích sống còn, cốt lõi và lợi ích phát triển; mối quan hệ giữa lợi ích quốc gia - dân tộc và lợi ích chung của khu vực, thế giới; vấn đề xây dựng, củng cố lòng tin, đan xen lợi ích chiến lược, để Việt Nam hòa bình, ổn định, phát triển, trở thành lợi ích chung của nhiều nước, cần chung tay bảo vệ.

Ba là, nâng cao khả năng dự báo kịp thời, chính xác về tình hình thế giới, khu vực và trong nước, đáp ứng yêu cầu của công tác đối ngoại quốc phòng. Việc dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước liên quan đến công tác đối ngoại quốc phòng nếu được tiến hành chậm, không chính xác sẽ dẫn đến bị động, bất ngờ, đề ra chủ trương, đối sách sai... Trong dự báo tình hình, phải chỉ ra được xu hướng phát triển chủ yếu, cục diện chính trị, an ninh, các liên minh, tập hợp lực lượng của thế giới, khu vực; đồng thời dự kiến những đột biến có thể xảy ra. Để nâng cao khả năng dự báo tình hình, cần vận dụng đúng đắn quan điểm, phương pháp xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện và vận động, phát triển. Dự báo đối tác, đối tượng phải chú ý đến lịch sử, đặc thù của quốc gia, dân tộc và sự tác động của các nước, nhất là các nước lớn. Tổ chức nghiên cứu, dự báo khoa học; kết hợp các nguồn thông tin, tư liệu khác nhau, cả trong nước và nước ngoài; vận dụng phương pháp xử lý thông tin tiên tiến để hạn chế thông tin “giả, nhiễu”. Thường xuyên theo dõi, bổ sung, cập nhật tình hình và thông qua hoạt động thực tiễn để kiểm chứng, điều chỉnh kịp thời các dự báo.

Bốn là, coi trọng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận về đối ngoại quốc phòng. Quốc phòng là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm, nhưng vẫn cần có sự hợp tác quốc tế để nâng cao chất lượng công tác tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về đối ngoại quốc phòng. Để hợp tác quốc tế thiết thực, hiệu quả, bảo đảm bí mật, an toàn, cần lựa chọn đối tác, nội dung, hình thức hợp tác nghiên cứu phù hợp, trong đó ưu tiên hợp tác nghiên cứu với các viện, trung tâm, chuyên gia nghiên cứu quốc tế có uy tín. Kết hợp hợp tác nghiên cứu thường xuyên với nghiên cứu theo từng đề án, dự án; tận dụng các hội thảo, diễn đàn quốc phòng, an ninh và các hình thức đối thoại chiến lược, chính sách quốc phòng... Quá trình hợp tác nghiên cứu cần được kết hợp với việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ và chuyển giao, tiếp thu công nghệ tiên tiến. Nội dung hợp tác nghiên cứu tập trung vào những vấn đề chung của thế giới, khu vực mà các bên quan tâm; không để lộ những văn kiện mật về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách quốc phòng, quân sự của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Lựa chọn cán bộ tham gia hợp tác nghiên cứu quốc tế có độ tin cậy về chính trị, trình độ chuyên môn tốt, đồng thời có các biện pháp bảo vệ nội bộ, không để nước ngoài lợi dụng lôi kéo, mua chuộc, cài cắm, khai thác bí mật quốc gia.

Vận dụng kinh nghiệm, phát huy kết quả đạt được, tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy lý luận và hành động về đối ngoại quốc phòng là cơ sở để quyết tâm, nỗ lực thực hiện thắng lợi ý kiến chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng; đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và xây dựng Quân đội ngày một vững mạnh”(4)./.

---------------------------------------------------

(1) Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Quân ủy Trung ương năm 2017

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr. 147

(3) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t. 7, tr. 244

(4) Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Quân chính năm 2017

Nguyễn Chí VịnhThượng tướng, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

Video