Thứ Ba, 23/7/2019
Xây dựng mô hình “Dân vận khéo” gắn với lợi ích người dân, bài học từ thực tiễn
13/2/2019 21:58' Gửi bài này In bài này
Diện mạo nông thôn khởi sắc, qua công tác "Dân vận khéo" đạt hiệu quả - Nguồn: baoanhdatmui.vn

Mô hình “Dân vận khéo” xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của đời sống đối với công tác dân vận của Đảng

Thực tiễn cuộc sống của nhân dân cho thấy, để nhân dân hiểu, ủng hộ tham gia thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cần thiết phải làm tốt công tác vận động, tuyên truyền bằng cách thức phù hợp, hiệu quả gắn với nâng cao đời sống, giải quyết lợi ích thiết thân của nhân dân. Do vậy, phong trào “Dân vận khéo” dần trở thành phương thức quan trọng trong công tác vận động nhân dân. Đã xuất hiện hàng vạn mô hình, điển hình “Dân vận khéo” trên các lĩnh vực của đời sống xã hội góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, tập hợp, động viên, đoàn kết các tầng lớp nhân dân tham gia phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị.

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn các mô hình, điển hình “Dân vận khéo” đã được xây dựng, tiếp tục mở rộng hình thức vận động nhân dân, đổi mới và nâng cao chất lượng công tác dân vận của Ðảng, năm 2009 Ban Dân vận Trung ương đã chính thức phát động phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong cả nước.

Phong trào đã được các cấp ủy đảng, hệ thống chính trị đồng tình hưởng ứng, quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo gắn với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Các cấp ủy, tổ chức đảng xác định phong trào thi đua “Dân vận khéo” là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và phải trở thành phong trào sâu rộng trên mọi lĩnh vực chính trị - xã hội, ở tất cả các cấp, các ngành, trong mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân. Căn cứ đặc điểm, tình hình cụ thể của từng địa phương, đơn vị, các cấp ủy, tổ chức đảng định hướng việc lựa chọn, xác định nội dung phù hợp để vận động, phát huy được sức mạnh của nhân dân, thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chăm lo lợi ích chính đáng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.

Khẳng định vai trò, ý nghĩa của phong trào thi đua “Dân vận khéo”, Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” nêu rõ: “Đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo” gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh và các phong trào do Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội phát động”. Đến nay, phong trào thi đua “Dân vận khéo” đã có bước phát triển mới, nhiều tấm gương tiêu biểu đã có sức lan tỏa, tác động sâu sắc đến đời sống nhân dân. Năm 2010, cả nước đã có hơn 200 nghìn mô hình, điển hình “Dân vận khéo”. Đến năm 2015 có hơn 400 nghìn mô hình, điển hình, trong đó có 279 điển hình xuất sắc tiêu biểu trên các lĩnh vực được tôn vinh, biểu dương, khen thưởng tại Đại hội Thi đua yêu nước ngành dân vận. Đến quý I - 2018 đã xây dựng được 863.364 mô hình, điển hình “Dân vận khéo” trên cả nước, tiêu biểu là các địa phương, như Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Giang, Ninh Bình, Sơn La, Nghệ An, Đà Nẵng, Kon Tum, Đắk Lắk, Cần Thơ, Cà Mau, An Giang...

Trên lĩnh vực kinh tế, đó là các mô hình “Dân vận khéo” trong sản xuất, kinh doanh, nhất là ở địa bàn nông thôn, như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; xây dựng trang trại, phát triển tiểu, thủ công nghiệp, dịch vụ... nhằm phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích sản xuất, kinh doanh giỏi, làm giàu chính đáng. Đặc biệt, phong trào đã bắt đầu đi vào các lĩnh vực mới, đòi hỏi ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ cao, có hiệu quả kinh tế và phạm vi tác động rộng, thực hiện liên danh, liên kết, trao đổi, giúp đỡ, hỗ trợ kỹ thuật, vốn, kinh nghiệm trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, tập trung tuyên truyền, vận động nhân dân trong quá trình đô thị hóa, kết hợp hài hòa giữa lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân với lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp. Xuất hiện nhiều mô hình “Dân vận khéo” trong “dồn điền, đổi thửa”, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, xây dựng trang trại, gia trại, phát triển ngành, nghề, làng nghề, tổ hợp tác, hợp tác xã,... thu hút lao động, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, hình thành chuỗi liên kết giá trị trong sản xuất nông nghiệp gắn với thị trường. Xuất hiện nhiều cách làm hay, sáng tạo trong việc huy động sự tham gia tích cực của nhân dân đóng góp kinh phí, hiến đất, sức lao động, xây dựng nông thôn mới... Với phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, nhờ “khéo” vận động mà nhiều công trình phục vụ dân sinh, phát triển kinh tế ở địa phương, góp phần thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế được xây dựng, qua đó làm chuyển biến nhận thức, động viên các thành phần kinh tế hăng hái tham gia, phát triển cuộc sống ngày càng tốt hơn.

Các mô hình “Dân vận khéo” trong xây dựng nông thôn mới có bước chuyển biến tích cực, góp phần làm thay đổi diện mạo nông thôn, cải thiện cuộc sống người dân. Từ năm 2013 đến nay(2), các mô hình “Dân vận khéo” trong nông dân đã vận động tự nguyện đóng góp trên 10 nghìn tỷ đồng, 29 triệu ngày công, hiến gần 6 triệu mét vuông đất, làm mới, sửa chữa, nâng cấp trên 847 nghìn ki-lô-mét kênh mương và 678 nghìn ki-lô-mét đường giao thông nông thôn...; các mô hình “Dân vận khéo” trong cựu chiến binh đã vận động tự nguyện đóng góp trên 1,45 triệu mét vuông đất, trên 97,5 tỷ đồng, trên 350 nghìn ngày công lao động, làm mới, sửa chữa trên 2.430km đường giao thông, xây dựng, nạo vét trên 2.950km kênh mương, 190 cây cầu, cống, khoanh nuôi bảo vệ hàng vạn héc-ta rừng... Trong phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, các mô hình “Dân vận khéo” trong nông dân đã giúp trên 790.000 hộ nghèo về vật tư, ngày công, tiêu thụ sản phẩm, trị giá trên 15.000 tỷ đồng, tạo việc làm tại chỗ cho hơn 11 triệu lao động, giúp hơn 200.000 hộ nông dân thoát nghèo, vươn lên khá; các mô hình “Dân vận khéo” trong cựu chiến binh, như tổ hợp tác, quỹ “Nghĩa tình đồng đội”, quỹ “Xóa nghèo cho hội viên” đã giúp cựu chiến binh trong cả nước giảm được 14.840 hộ nghèo (0,53%), số hộ nghèo còn 4,23%, tỷ lệ hộ khá và giàu là 56,2% (đến hết năm 2017); các mô hình “Dân vận khéo” trong phụ nữ giúp khoảng 100.000 hộ thoát nghèo mỗi năm; trong thanh niên cả nước cũng có trên 14.000 mô hình thanh niên phát triển kinh tế giỏi, 356 hợp tác xã thanh niên và gần 1.200 tổ hợp tác thanh niên phát triển kinh tế; các mô hình “Dân vận khéo” trong đoàn viên công đoàn giúp trên 20.000 gia đình đoàn viên, người lao động nghèo được xây nhà mới hoặc sửa chữa nhà ở trị giá trên 500 tỷ đồng...

Trên lĩnh vực văn hóa - xã hội, điển hình là các phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”, Ngày “Vì người nghèo”, “Lao động sáng tạo”, “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”, “Xanh - Sạch - Đẹp”, “Bảo đảm an toàn vệ sinh lao động”, “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”... Nhiều mô hình “Dân vận khéo” tiêu biểu, như mô hình “Tổ liên gia”, “Tổ tự quản”, “Tổ hoà giải”, “Khu dân cư không có tội phạm, tệ nạn xã hội”, “Gia đình, dòng họ không có người phạm tội, mắc tệ nạn xã hội”, “Tổ an ninh nhân dân”, đội dân phòng, chương trình “Phúc lợi cho đoàn viên công đoàn”, “Tết sum vầy”, “Mái ấm Công đoàn”(3), “Thanh niên tình nguyện bảo vệ môi trường”, “Tổ phụ nữ thu gom, phân loại rác thải”... Trong thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo, bên cạnh những chính sách hỗ trợ phát triển, việc phát huy vai trò các mô hình “Dân vận khéo” cũng được chú trọng, tiêu biểu như mô hình “Xóa 1 hộ đói, giảm 1 hộ nghèo” ở tỉnh Đắk Lắk; mô hình chuyển đổi từ cây ngô, cây sắn cho thu nhập thấp sang trồng cây chè ở huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; mô hình “Hũ gạo vì người nghèo” của lực lượng vũ trang tỉnh Quảng Nam... Qua đó đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và văn hóa, tinh thần của người dân, bảo đảm an sinh xã hội, xóa bỏ tập tục lạc hậu, giải quyết được nhiều việc khó để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đơn vị.

Trên lĩnh vực an ninh - quốc phòng, đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật, nắm chắc tình hình nhân dân, xây dựng lực lượng nòng cốt, kịp thời đề xuất, xử lý có hiệu quả các vụ, việc phức tạp ở cơ sở, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nhất là tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng trọng điểm về an ninh quốc phòng. Tiêu biểu như các mô hình “Hành quân dã ngoại làm công tác dân vận”, “Tiếng kẻng phòng gian”, “Điểm sáng vùng biên”, “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, “Vì Hoàng Sa, Trường Sa”, “Tấm lưới nghĩa tình”, “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”, mô hình “3 giảm, 4 giữ”, “Xây dựng khu, cụm công nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp an toàn về an ninh trật tự”, “Dòng họ tự quản về an ninh trật tự”, “Tổ an ninh tự quản ngõ xóm”, “Xây dựng xã không có tội phạm và tệ nạn ma túy”, mô hình 3+1 (3 phụ nữ giúp đỡ 1 phụ nữ đã từng vi phạm pháp luật). Với nhiều cách làm sáng tạo, các mô hình “Dân vận khéo” đã khơi dậy truyền thống yêu nước, phát huy tinh thần trách nhiệm, quyền làm chủ của nhân dân, tích cực tham gia bảo vệ an ninh trật tự, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, từng bước đẩy lùi tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh và cuộc sống bình yên của nhân dân.

Trên lĩnh vực xây dựng hệ thống chính trị, mô hình “Dân vận khéo” gắn với việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vận động nhân dân tham gia ý kiến đối với các chính sách, pháp luật liên quan mật thiết đến cuộc sống người dân; mở rộng hình thức tiếp xúc cử tri (tại nơi cư trú, nơi làm việc, theo chuyên đề, lĩnh vực, theo đối tượng và cá nhân hoặc nhóm cử tri...), tăng đồng thuận, mở rộng dân chủ, phát huy tốt hơn trách nhiệm của cử tri trong việc tham gia góp ý xây dựng chính sách, pháp luật, phản ánh kiến nghị của cử tri. Cơ quan hành chính nhà nước xây dựng mô hình “Dân vận khéo” gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính; xây dựng đạo đức công vụ, tăng cường tiếp dân, đối thoại, giải quyết những vấn đề bức xúc, phức tạp trong nhân dân. Tiêu biểu là các mô hình kết hợp giữa bộ phận tiếp nhận với bưu điện văn hóa xã, giải quyết thủ tục hành chính “phi địa giới”, mô hình “Ngày không hẹn”, “Ngày không viết”; tổ chức đội tình nguyện viên hướng dẫn hồ sơ, thủ tục hành chính tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp quận, phường, xã; kê khai thuế điện tử... Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới, hướng về cơ sở, chăm lo lợi ích hợp pháp, chính đáng, phát huy quyền làm chủ của đoàn viên, hội viên và nhân dân; tổ chức tốt các mô hình tự quản trong cộng đồng dân cư; thực hiện tốt hương ước, quy ước gắn với các phong trào thi đua, các cuộc vận động.

Mô hình “Dân vận khéo” hướng đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, góp phần cải thiện và nâng cao cuộc sống của nhân dân, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị

Cùng với những thành tựu của hơn 30 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc sống của nhân dân đã có nhiều thay đổi. Các chính sách quan trọng, như giáo dục, dạy nghề, việc làm, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu, đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là chính sách đối với người có công với cách mạng, chính sách đối với người nghèo, cận nghèo, người lao động, người gặp khó khăn trong cuộc sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, được quan tâm thực hiện vì sự tiến bộ và công bằng xã hội. Đó là cơ sở quan trọng để tạo sự đồng thuận của nhân dân. Các chính sách, chương trình xóa đói, giảm nghèo đạt được kết quả thiết thực, được nhân dân ghi nhận và đánh giá cao. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,2% (năm 2010) còn 6,7% (năm 2017) và dưới 6% (cuối năm 2018). Số hộ nghèo tập trung ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 72%, giảm mạnh còn dưới 30%. Đến năm 2018, có 87,2% dân số có thẻ bảo hiểm y tế, chất lượng khám, chữa bệnh, số giường bệnh và bác sĩ tiếp tục tăng; hệ thống giáo dục quốc dân được tổ chức đến tận cơ sở, từ năm 2011 đến nay đã có 48/54 dân tộc được hưởng chế độ cử tuyển với số lượng 8.681 học sinh; tỷ lệ phủ sóng phát thanh, truyền hình đạt trên 98%, khoảng gần 70% dân số dùng in-tơ-nét; chính sách dành cho nhóm người dân gặp khó khăn trong cuộc sống (phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi...) được cải thiện; đến cuối năm 2018, có 55 huyện và dự kiến trên 40% số xã đạt chuẩn nông thôn mới. Các kết quả đó có sự đóng góp rất lớn của các mô hình “Dân vận khéo” từ địa phương, cơ sở trên các lĩnh vực.

Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp quan tâm, giải quyết có hiệu quả hơn những bức xúc, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân; tăng cường đối thoại, tiếp dân, nhất là đối với những vấn đề khiếu kiện phức tạp, đông người; đồng thời, tiếp nhận góp ý của nhân dân, công khai “đường dây nóng”, phân công trách nhiệm giải quyết, trả lời phản ánh, kiến nghị chính đáng của nhân dân; xử lý nghiêm cán bộ, công chức vi phạm; tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân thực hiện giám sát, phản biện; phát huy vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số, cốt cán trong tôn giáo.

Chính phủ xây dựng hệ thống tiếp nhận, trả lời phản ánh, kiến nghị của người dân. Từ năm 2012, Chính phủ đã xây dựng tiêu chí và công bố chỉ số cải cách hành chính, chỉ số hài lòng của người dân. Nhiều cơ quan, đơn vị, nhất là các ngành thuế, hải quan, ngân hàng, tài nguyên môi trường... tổ chức đối thoại để tháo gỡ, giải quyết kịp thời những kiến nghị của người dân, doanh nghiệp.

Thủ tướng Chính phủ trực tiếp đối thoại với doanh nghiệp, công nhân, nông dân để nghiên cứu, sửa đổi chính sách liên quan(4). Trong khu vực doanh nghiệp hoạt động đối thoại được tổ chức từ 2 đến 4 lần/năm và hội nghị người lao động hằng năm nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quan hệ lao động, phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần làm cho người lao động ổn định tư tưởng, yên tâm lao động, sản xuất, tham gia phát triển doanh nghiệp.

Các cơ quan tư pháp tập trung cải cách tư pháp gắn với cải cách thủ tục hành chính tư pháp; tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp. Tòa án Nhân dân tối cao đã tiến hành công khai quyết định, bản án; tổ chức thí điểm mô hình đối thoại, hòa giải tiền tố tụng trong tranh chấp dân sự; hướng đến xây dựng dự thảo Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án.

Những chuyển biến về nhận thức, hành động của các cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị là cơ sở quan trọng để đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tăng sự đồng thuận, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, phong trào thi đua “Dân vận khéo” vẫn còn hạn chế, như phong trào chưa được thực hiện rộng khắp trong các lĩnh vực đời sống xã hội; các điển hình “Dân vận khéo” trong các cơ quan nhà nước, trong doanh nghiệp, hợp tác xã, xây dựng hệ thống chính trị còn ít; việc nhân rộng các mô hình, điển hình chưa đạt yêu cầu như mong muốn. Một số cấp ủy, chính quyền, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu chưa nhận thức đầy đủ, chưa quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo; công tác phối, kết hợp giữa các ban, ngành, đoàn thể ở một số nơi chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ, còn hình thức.

Qua thực hiện phong trào thi đua “Dân vận khéo” đã cho thấy, việc nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, nhất là người đứng đầu hiểu được hiệu quả mang lại từ phong trào “Dân vận khéo”. Từ đó, định hướng rõ nội dung trọng tâm trong từng giai đoạn, từng loại hình, từng địa phương, đơn vị phải thực sự hướng đến lợi ích hợp pháp, chính đáng, thiết thực của người dân, tạo động lực để phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Tiếp tục thực hiện tốt phong trào thi đua, xây dựng các mô hình, điển hình “Dân vận khéo”

Quá trình hoàn thiện và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đang mở ra những cơ hội để nâng cao, cải thiện đời sống nhân dân. Tuy nhiên, những thách thức về nguồn lực cho đầu tư phát triển, nâng cao phúc lợi, an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với thiên tai, củng cố quốc phòng, an ninh... còn hạn hẹp; khoảng cách giàu - nghèo gia tăng; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; một số địa bàn tiềm ẩn nguy cơ phức tạp về an ninh, trật tự an toàn xã hội, các phần tử xấu, thế lực thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, không ngừng tuyên truyền, xuyên tạc, hòng gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Tình hình đó yêu cầu phải đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận nhằm tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo phong trào cách mạng rộng lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để phong trào thi đua “Dân vận khéo” tiếp tục lan tỏa, mang lại hiệu quả cụ thể, lợi ích thiết thực cho nhân dân, các cấp ủy đảng cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, chú trọng thực hiện tốt một số nội dung trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức về công tác dân vận, về phong trào thi đua “Dân vận khéo” nhằm tạo sự chuyển biến thực chất trong quan hệ giữa Đảng với nhân dân, xác định phong trào thi đua “Dân vận khéo” là trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, hệ thống chính trị. Tăng cường công tác tuyên truyền, định hướng phong trào gắn với chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông đại chúng trong công tác tuyên truyền, vận động nhân dân.

Hai là, xác định nội dung trọng tâm phong trào thi đua “Dân vận khéo” phù hợp với điều kiện từng địa bàn, từng đối tượng. Chú trọng Chương trình Mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững gắn các phong trào thi đua của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.

Ba là, chú trọng xây dựng, phát triển mô hình, điển hình “Dân vận khéo” ở những nơi khó khăn, phức tạp, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có tôn giáo, công nhân ở các khu công nghiệp, khu chế xuất, trong giải quyết các “điểm nóng” phức tạp, bức xúc nổi cộm, trong cải cách hành chính, xây dựng bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phục vụ nhân dân.

Bốn là, hệ thống công tác dân vận tăng cường nghiên cứu, tham mưu cho cấp ủy đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt hơn phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Các cấp, các ngành, cơ quan, đơn vị phải định hướng, hướng dẫn, hỗ trợ xây dựng mô hình, điển hình; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, định kỳ sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời và có giải pháp để nhân rộng mô hình, điển hình “Dân vận khéo” có hiệu quả.

Từ thực tiễn phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong nhiều năm qua có thể khẳng định đây là một chủ trương đúng đắn, một phong trào thiết thực, hiệu quả, hợp lòng dân, được đông đảo đoàn viên, hội viên và nhân dân hưởng ứng, tham gia, góp phần quan trọng vào ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh và xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh./.

-----------------------------------------------------

(1) Báo Sự Thật, số ra ngày 15-10-1949
(2) Nguồn: Báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013, của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”
(3) Chương trình “Phúc lợi cho đoàn viên công đoàn” được các cấp công đoàn tổ chức đàm phán, ký kết thỏa thuận hợp tác với 1.157 đối tác, cung cấp sản phẩm, dịch vụ ưu đãi cho 1,7 triệu lượt đoàn viên, người lao động với số tiền 526 tỷ đồng. Chương trình “Tháng Công nhân” tổ chức 19.352 lượt phát động, hưởng ứng, thu hút 2,9 triệu lượt đoàn viên, người lao động tham gia; có hơn 573.772 đoàn viên, người lao động được thăm hỏi, tặng quà với số tiền hơn 149 tỷ đồng. Chương trình “Tết sum vầy” đã tổ chức chăm lo, tặng quà Tết, hỗ trợ vé tàu, xe đưa, đón cho hơn 8 triệu lượt đoàn viên, người lao động, với tổng số tiền hơn 8.500 tỷ đồng
(4) Ngày 22-4-2017, tại thành phố Đà Nẵng, Thủ tướng Chính phủ gặp gỡ và đối thoại với 2.000 công nhân lao động vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Ngày 17-5-2017, tại Hội nghị Thủ tướng với doanh nghiệp với chủ đề “Đồng hành với doanh nghiệp”, Thủ tướng, các Phó Thủ tướng đã gặp mặt, đối thoại với trên 10.000 doanh nghiệp. Ngày 9-4-2018, tại Hải Dương, Thủ tướng Chính phủ dự Hội nghị đối thoại với nông dân với chủ đề “Tháo gỡ vướng mắc, khơi dậy động lực, tiếp đà 30 năm đổi mới”. Ngày 20-5-2018, tại tỉnh Hà Nam, Thủ tướng Chính phủ gặp gỡ và đối thoại với gần 1.000 công nhân lao động tại các khu công nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng với chủ đề “Năng suất cao hơn, phúc lợi tốt hơn” (Nguồn: Báo cáo sơ kết Nghị quyết số 25 của Ban Cán sự đảng Chính phủ)

Trương Thị MaiỦy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Dân vận Trung ương

Video