Thứ Sáu, 15/12/2017
Phát huy tinh thần Cách mạng tháng Mười Nga, kiên định đường lối đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn mới
7/12/2017 23:2' Gửi bài này In bài này
Ảnh minh họa. Ảnh: tuyengiao.vn

Cách mạng Tháng Mười soi sáng con đường cách mạng Việt Nam

Cách mạng Tháng Mười Nga đã lập nên Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Thành công của cuộc Cách mạng vĩ đại đã thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc, trong đó có Việt Nam, vùng lên giành độc lập dân tộc, tự giải phóng khỏi mọi áp bức, bất công, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi to lớn của Cách mạng Tháng Mười đã khẳng định bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và cung cấp những bài học lịch sử vô giá cho các cuộc cách mạng vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kể từ đó, chủ nghĩa xã hội đã trở thành một hệ thống thế giới, con đường phát triển và hình mẫu tổ chức xã hội mang lại tự do, công bằng và hạnh phúc cho đa số nhân dân. Đây chính là bước ngoặt trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Những quan điểm, tư tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học được hiện thực hóa và là một bước tiến lớn trong sự phát triển tư tưởng của loài người. Trong dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế... Cách mạng Tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người”(1).

Đối với Việt Nam, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã khởi đầu cho quá trình ủng hộ, giúp đỡ to lớn và toàn diện của Đảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô. Trong quá trình đi tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm thấy ở Chủ nghĩa Mác - Lê-nin con đường cứu nước duy nhất đúng cho dân tộc mình. Cũng từ đó, Cách mạng Tháng Mười Nga đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tác động mạnh mẽ đến cách mạng Việt Nam.

Thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga và thực tiễn hoạt động của chính quyền Xô viết đã để lại nhiều kinh nghiệm có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn sâu sắc cho Đảng và nhân dân ta, trong đó có đường lối đối ngoại đoàn kết vô sản trên toàn thế giới, bài học về chính sách đại đoàn kết dân tộc, tôn trọng quyền tự quyết dân tộc, bài học về thời cơ, sách lược trong hoạt động đối ngoại… Từ bài học Cách mạng Tháng Mười và xây dựng Liên bang Xô viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo vào cách mạng Việt Nam, vận dụng và sáng tạo tư tưởng Mác - Lê-nin vào điều kiện Việt Nam, trong đường lối chính trị, đối ngoại, quân sự, phương pháp cách mạng, nghệ thuật ngoại giao...

Tư tưởng Hồ Chí Minh là “một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”(2). Trong đó, tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là hệ thống các quan điểm về các quyền dân tộc cơ bản; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; độc lập tự chủ, tự lực tự cường gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; hòa bình và chống chiến tranh xâm lược; hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới; xây dựng quan hệ hữu hảo với các nước lớn; ngoại giao là một mặt trận của cách mạng Việt Nam. Hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta xuất phát từ nền tảng tư tưởng đó.

Nắm vững chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh có tầm quan trọng quyết định đối với việc triển khai thực hiện thành công đường lối đối ngoại của Đảng, đưa nền ngoại giao cách mạng hiện đại Việt Nam thực hiện thành công đường lối đối ngoại, trưởng thành, lớn mạnh cùng với những bước đường cách mạng của đất nước và có đóng góp xứng đáng vào những thành quả cách mạng của dân tộc suốt gần 90 năm qua. Thành công của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra kỷ nguyên mới cho đất nước, kỷ nguyên độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, công tác đối ngoại đã đạt được những kết quả to lớn, từ việc phân hóa kẻ thù để bảo vệ chính quyền cách mạng, tránh phải đối phó cùng một lúc với nhiều kẻ thù; tranh thủ thời gian hòa hoãn để chuẩn bị kháng chiến; đẩy lùi thế cô lập, mở ra quan hệ quốc tế những năm 1950, ký Hiệp định Genever năm 1954, giải phóng miền Bắc, ký Hiệp định Paris năm 1973 với mục tiêu làm cho “Mỹ cút”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước với Đại thắng Mùa Xuân năm 1975. Cách mạng Việt Nam đã trở thành “tiền đồn của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ở Đông Nam châu Á”(3), “mở rộng trận địa của chủ nghĩa xã hội... tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của các trào lưu cách mạng của thời đại”(4).

Suốt gần chín thập niên qua, Cách mạng Việt Nam liên tục vận động theo con đường và lý tưởng mục tiêu của Cách mạng Tháng Mười Nga, bảo vệ độc lập, tự do, mang lại hạnh phúc cho quần chúng cần lao, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc và đi lên chủ nghĩa xã hội. Những thắng lợi và thành tựu to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam đã góp phần khẳng định tầm vóc lớn lao, ý nghĩa lịch sử và giá trị thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Uống nước nhớ nguồn. Càng nhớ lại những ngày tủi nhục mất nước, nhớ lại mỗi bước đường đấu tranh cách mạng đầy hy sinh, gian khổ mà cũng đầy thắng lợi vẻ vang thì giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam càng thấm thía công ơn to lớn của V. I. Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười”(5).

Phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thời đại mới

100 năm qua, chủ nghĩa xã hội hiện thực đã trải qua nhiều bước thăng trầm trong việc tìm tòi các mô hình và con đường phù hợp với sự phát triển của lịch sử nhân loại. Trong những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, xu thế toàn cầu hóa, đa cực, đa phương hóa trên thế giới ngày càng mạnh mẽ. Sự phát triển vượt bậc của cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh. Hòa bình, ổn định, hợp tác cùng phát triển trở thành những đòi hỏi cấp thiết. Trong bối cảnh đó, khủng hoảng chính trị, kinh tế, xã hội trầm trọng do trì trệ, sai lầm trong cải tổ đã khiến Đông Âu sụp đổ, Liên Xô tan rã. Sự sụp đổ của Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu không phải là sự sụp đổ của chủ nghĩa Mác - Lê-nin với bản chất khoa học và cách mạng, mà chủ yếu là do sự bảo thủ, trì trệ trong nhận thức, những sai lầm chủ quan trong việc hiện thực hóa chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở những mô hình cụ thể.

Nhận thức sâu sắc nguyên nhân bài học kinh nghiệm sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu, Đảng ta đã khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, lãnh đạo tiến hành công cuộc đổi mới với bước đi cụ thể và nguyên tắc chỉ đạo phù hợp với điều kiện cụ thể ở nước ta, đó là đổi mới trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Bên cạnh đó, Đảng ta cũng nêu rõ yêu cầu tăng cường đoàn kết quốc tế, coi đó là một phần tạo nên sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Đảng ta cũng xác định rõ, cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại. Trong sự nghiệp cách mạng lâu dài và gian khổ, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan.

Trên cơ sở đó, Đảng ta đã nhận định đúng tình hình, có những bước đi sáng suốt về nhận thức để có sự đổi mới mạnh mẽ trong chính sách về đối ngoại, kinh tế, xã hội... Đảng đã điều chỉnh mạnh mẽ về tư duy đối ngoại, xác lập đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Việt Nam xác định cần chủ động thêm bạn, bớt thù, mở rộng hợp tác, từng bước hội nhập với khu vực và thế giới. Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã “đánh dấu bước chuyển mạnh mẽ trong đổi mới tư duy, cách thức tiếp cận để xem xét các vấn đề thời đại, tình hình thế giới, giải quyết tổng thể các vấn đề trong nước nằm trong bối cảnh quốc tế và thời đại để xử lý những diễn biến mau lẹ, những biến đổi bên ngoài, phục vụ mục tiêu đổi mới và phát triển đất nước”(6).

Những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Việt Nam đã góp phần quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa qua các giai đoạn: phá thế bao vây, cô lập (1986 - 1996); mở rộng quan hệ hợp tác và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế (1996 - 2006); đưa các mối quan hệ quốc tế vào chiều sâu và hội nhập quốc tế toàn diện, tham gia xây dựng các quy tắc và luật lệ chung của cộng đồng quốc tế, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam (2006 - 2016).

Sau hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Từ chỗ bị bao vây, cấm vận và hầu như chỉ có quan hệ với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng và toàn diện, có quan hệ ngoại giao với 185/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, có 15 đối tác chiến lược, 11 đối tác toàn diện, 2 đối tác toàn diện đặc biệt và 2 đối tác chiến lược theo lĩnh vực. Việt Nam còn là thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm trong nhiều tổ chức khu vực và quốc tế, có vai trò, tiếng nói ngày càng quan trọng trong ASEAN, Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Liên hợp quốc…

Bên cạnh đó, ổn định chính trị - xã hội được giữ vững, dân chủ được phát huy, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được tăng cường, tạo ra động lực mạnh mẽ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng tốt, quy mô nền kinh tế tăng lên. Đời sống nhân dân được cải thiện. Với đường lối tích cực, chủ động hội nhập quốc tế và đóng góp giải quyết những vấn đề chung của khu vực, thế giới và loài người, như các vấn đề hòa bình, phát triển, xóa đói nghèo, thích ứng với biến đổi khí hậu… Việt Nam đang trở thành một thành viên ngày càng có vai trò, ảnh hưởng và tiếng nói quan trọng trong cộng đồng quốc tế.

Những thành quả sau hơn 30 năm đổi mới đất nước đã góp phần chứng minh tính đúng đắn và phù hợp của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Việt Nam. Thông qua quá trình đổi mới, Việt Nam đã góp phần xây dựng và phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực trong thời đại mới. Đó cũng là minh chứng cho sự đúng đắn và phù hợp của con đường cách mạng mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân ta đã lựa chọn.

Kiên định đường lối đối ngoại vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Thế kỷ XXI đặt ra nội dung và yêu cầu mới cho mục tiêu phát triển. Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác, vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Ðó là sự phát triển trong hòa bình và tự do, phát triển hài hòa giữa vật chất và tinh thần, công bằng và dân chủ, phát triển bền vững và nhân văn. Sự phát triển của mỗi người, mỗi nhóm xã hội, mỗi giai cấp, tập đoàn, mỗi quốc gia, dân tộc phải là điều kiện tích cực cho sự phát triển của những người khác và toàn bộ loài người(7).

Từ thực tế Việt Nam, thông qua quá trình cải cách, đổi mới và phát triển, chủ nghĩa xã hội đã chứng minh được sức sống và tính ưu việt của mình. Đồng thời, quá trình đổi mới đã làm nổi bật những đặc trưng của chủ nghĩa xã hội hiện thực của Việt Nam, đó là xã hội xã hội chủ nghĩa “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”(8).

Các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng là thành quả của công cuộc đổi mới, trước hết là thành quả của đổi mới nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Quan điểm, đường lối, chính sách xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trước sau đều phù hợp với bản chất xã hội xã hội chủ nghĩa. Đây chính là yếu tố, điều kiện để Việt Nam phát triển nhanh chóng trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Để góp phần thực hiện mục tiêu đó, Đảng ta xác định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Đó cũng là đường lối hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Trong khu vực, Việt Nam phấn đấu cùng các nước Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển phồn vinh.

Việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế đã chứng minh một cách sinh động tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng. Đảng ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; không ngừng tiếp thu có chọn lọc và vận dụng phù hợp những giá trị của nền văn minh nhân loại để hiện thực hóa lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, với tinh thần và tư duy biện chứng về phát triển xã hội, Đảng ta xác định tiến lên chủ nghĩa xã hội là một quá trình vận động, chuyển hóa liên tục, không ngừng phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện hơn. Cương lĩnh 2011 nêu rõ: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội”(9) và khẳng định “đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”(10).

                                                                                *
                                                                             *    *
Sau 100 năm, lý tưởng cao đẹp và những giá trị to lớn của cách mạng Tháng Mười Nga là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội vẫn luôn tỏa sáng, là nguồn động lực thôi thúc tinh thần cách mạng của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Việt Nam. Đây cũng là dịp đánh giá những đóng góp to lớn của quá trình đổi mới, hình thành và phát triển mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Việt Nam; tổng kết những quy luật, những cách thức phát triển mới, nhanh, bền vững, phù hợp với xu thế thời đại trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Thực tiễn sinh động trong 100 năm hình thành và phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực qua đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, là cơ sở, căn cứ lý luận và thực tiễn cho đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi to lớn, sâu sắc, học thuyết Mác - Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười vẫn còn nguyên giá trị lịch sử. Phát huy bài học Cách mạng Tháng Mười Nga, Việt Nam tiếp tục kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ Đại hội XII của Đảng đã đề ra là “đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, xây dựng một nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; góp phần thực hiện mục tiêu, khát vọng cháy bỏng của nhân loại là hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội./.

----------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, t.12, tr. 300
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 20
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 37, tr. 478
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t. 37, tr. 471
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 15, tr. 392 - 393
(6) Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, Đối ngoại Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr. 13
(7) Ý nghĩa lịch sử và giá trị hiện thực của Cách mạng Tháng Mười Nga, http://www.nhandan.com.vn/chinhtri/item/12776302-.html
(8) Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011
(9) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 70
(10) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr. 70

TS. Lê Viết DuyênBộ Ngoại giao

Video