Thứ Tư, 18/10/2017
Công tác xây dựng hậu phương quân đội trong tình hình mới
9/8/2017 22:32' Gửi bài này In bài này
Nghiệm thu đề tài KH-CN cấp quốc gia “Xây dựng hậu phương quân đội trong tình hình mới” - Nguồn: tienphong.vn

Mục tiêu xây dựng hậu phương quân đội

Mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh của đất nước ta trong thời gian tới đó là: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Tích cực chủ động chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc trong mọi tình huống. Để thực hiện tốt mục tiêu trọng yếu của quốc phòng, an ninh nêu trên, xây dựng hậu phương quân đội trong tình hình mới cần đạt cho được mục tiêu tổng quát: Quy tụ tinh thần yêu nước, bất khuất và sức đề kháng mãnh liệt của dân tộc Việt Nam. Xây dựng hậu phương quân đội vững chắc về mọi mặt. Nâng cao ý thức quốc phòng và tinh thần cảnh giác cách mạng cho nhân dân. Nhạy bén trước âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch. Tạo nên động lực mạnh mẽ, sức mạnh tổng hợp to lớn hậu thuẫn cho Quân đội hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ theo mục tiêu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Sẵn sàng ứng phó thắng lợi với mọi thử thách quyết liệt và phức tạp.

Để thực hiện được mục tiêu tổng quát nêu trên, xây dựng hậu phương quân đội trong tình hình mới cần thực hiện tốt những nhiệm vụ cơ bản sau:

Tạo sự đồng thuận cao trong toàn bộ hệ thống chính trị về những yêu cầu, nội dung xây dựng hậu phương quân đội trong tình hình mới, kịp thời ứng xử với những biến chuyển của thời cuộc, những thách thức do đối tượng mới gây ra.

Xây dựng hậu phương quân đội trong tình hình mới phải tạo được sự nhất trí cao về nhận thức trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân về những bước phát triển mới của tình hình, đó là, quốc phòng chủ yếu phải đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình; tích cực, chủ động chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc trong mọi tình huống.

Xây dựng và bảo đảm mọi tiềm lực, mọi nguồn sức mạnh gắn kết đồng bộ của hậu phương quân đội, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu thường xuyên của quân đội, kịp thời phục vụ đắc lực cho từng nhiệm vụ quốc phòng, quân sự bảo vệ Tổ quốc. Có hệ thống thiết chế, cơ chế bảo đảm đóng góp thường xuyên, động viên từng phần, từng khu vực, khả năng tổng động viên khi cần thiết.

Thiết lập hệ thống thiết chế, cơ chế bảo đảm sự đóng góp thường xuyên của toàn xã hội; cần xây dựng những chủ thể đủ mạnh, sự gắn kết đồng bộ từng loại tiềm lực, từng nguồn sức mạnh trong quân đội để phân phối, điều động đúng địa chỉ, đúng thời gian, nhằm phát huy cao nhất tác dụng của tiềm lực và nguồn sức mạnh đó cho xây dựng, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Thực hiện tốt những mục tiêu của xây dựng hậu phương quân đội nêu trên chính là đã thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tám khóa XI về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” một cách thực tế trong điều kiện đất nước còn giữ được môi trường hòa bình, ổn định; đồng thời, cần tích cực đề phòng mọi tình huống bất trắc.

Nội dung xây dựng hậu phương quân đội trong tình hình mới

Để xây dựng hậu phương quân đội vững mạnh, nội dung xây dựng hậu phương quân đội trong tình hình mới phải tạo được các tiềm lực, đi đôi với bổ sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, quản lý điều hành, hình thành thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh cho sự nghiệp phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc. Nội dung đó thể hiện thành 3 khối công việc phải thực hiện, trong đó công việc lớn nhất là xây dựng các tiềm lực cho hậu phương quân đội.

Xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần của hậu phương quân đội

Tiềm lực chính trị - tinh thần của hậu phương quân đội là khả năng về chính trị - tinh thần có thể huy động để tạo thành sức mạnh vật chất hiện thực nhằm thực hiện nhiệm vụ xây dựng hậu phương quân đội. Trong sự nghiệp cách mạng hiện nay, xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần là: củng cố sự đoàn kết, nhất trí cao và lòng tin của toàn dân, của cả nước vào công cuộc đổi mới.

Nội dung xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần là: Xây dựng Đảng và Nhà nước vững mạnh, có đủ năng lực, trí tuệ, khả năng tổ chức thực hiện và phẩm chất đạo đức tốt đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn mới. Kiên quyết chống tham nhũng, buôn lậu và tệ quan liêu có hiệu quả. Củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; xây dựng lòng tin của nhân dân với chế độ xã hội chủ nghĩa, với Đảng và Nhà nước. Thực hiện thắng lợi các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chấp hành tốt các chính sách xã hội, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng một xã hội thật sự có kỷ cương. Xây dựng, củng cố và phát huy hiệu lực của các tổ chức quần chúng, chú trọng công tác vận động quần chúng ở địa bàn trọng yếu, vùng sâu, vùng xa, vùng tôn giáo, vùng dân tộc ít ngưới. Thực hiện giáo dục quốc phòng trong toàn Đảng, toàn thể bộ máy nhà nước và toàn dân. Nâng cao cảnh giác cách mạng, nâng cao trách nhiệm, động viên và tổ chức toàn dân tham gia xây dựng và củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Do bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu nên tiềm lực cần được xây dựng đầu tiên cho hậu phương quân đội là tiềm lực về chính trị - tinh thần. Trong suốt quá trình lịch sử hình thành, phát triển, công tác, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam, bao giờ tiềm lực chính trị - tin thần cũng là ưu thế tuyệt đối của quân đội ta. Trước tiên, đó là sự ủng hộ mạnh mẽ của mọi tầng lớp xã hội đối với từng nhiệm vụ quốc phòng, quân sự mà Quân đội nhân dân Việt Nam đã, đang và sẽ đảm nhiệm - một trọng trách trước toàn dân, toàn Đảng, mà không lực lượng nào có thể thay thế. Tiềm lực chính trị - tinh thần được xây dựng đúng mức sẽ trở thành động lực to lớn thúc đẩy sự hăng hái đóng góp của mọi loại tiềm lực khác cho hậu phương quân đội.

Sự phát triển tiềm lực chính trị - tinh thần của quân và dân ta trước hết phải hướng vào mục tiêu đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, đồng thời sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược do chúng gây ra, dưới bất kỳ quy mô, hình thức nào; không bị động, bất ngờ.

Chất lượng tiềm lực chính trị - tinh thần ở nước ta ngày nay biểu hiện cụ thể ở sự thống nhất ý chí ngày càng cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Xây dựng tiềm lực quân sự, nguồn nhân lực chất lượng cao

Tiềm lực quân sự là khả năng về vật chất và tinh thần, về sức người có thể huy động để tạo thành sức mạnh hiện thực phục vụ nhiệm vụ quân sự và tiến hành chiến tranh. Tiềm lực quân sự là một nhân tố cơ bản của tiềm lực quốc phòng, là khả năng mọi mặt của đất nước có thể tạo thành sức mạnh quân sự. Được biểu hiện ở khả năng duy trì, hoàn thiện và không ngừng phát triển năng lực chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các lực lượng vũ trang (cả về nhân lực, vũ khí, trang bị, cơ sở vật chất bảo đảm, khoa học quân sự, nghệ thuật quân sự); nguồn dự trữ sức người, sức của phục vụ nhiệm vụ quân sự vào tiến hành chiến tranh.

Tiềm lực quân sự được xây dựng trên cơ sở tiềm lực chính trị - tinh thần và tiềm lực kinh tế, tiềm lực khoa học và công nghệ. Được biểu hiện ở lực lượng thường trực và lực lượng dự bị, cả ở lực lượng phi quân sự và lực lượng quân sự. Thể hiện trực tiếp là tổ chức lực lượng vũ trang, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và khả năng của đất nước bảo đảm giành thắng lợi trong mọi tình huống, cả thời bình và thời chiến.

Nội dung xây dựng tiềm lực quân sự gồm: Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng quân đội nhân dân phù hợp với điều kiện thực tế đất nước trong hoàn cảnh thời bình và sẵn sàng chiến đấu khi tình thế đòi hỏi. Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang hoạt động trong thời bình và sẵn sàng cho thời chiến. Bố trí lực lượng phù hợp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo quan điểm chiến tranh nhân dân và kế hoạch chiến lược. Chuẩn bị đất nước về mọi mặt, xây dựng kế hoạch, phương án ứng phó với các tình huống có thể xảy ra, kể cả chiến tranh xâm lược ở mọi quy mô. Sẵn sàng động viên cục bộ hoặc động viên cả nước để đối phó và giành thắng lợi trong thế có lợi nhất. Nghiên cứu khoa học quân sự, nghiên cứu nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân Việt Nam bảo vệ Tổ quốc. Giáo dục quân sự phổ cập những nội dung cần thiết, phương pháp phù hợp với từng đối tượng, ở từng địa bàn, nhất là khu vực trọng điểm. Tổ chức học tập và nghiêm chình chấp hành luật nghĩa vụ quân sự.

Xây dựng tiềm lực quân sự gắn chặt với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chủ động phát huy các thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, khoa học - công nghệ và văn hóa - tư tưởng trong xây dựng các lực lượng chiến đấu.

Trước mắt, cần bảo đảm thường xuyên bổ sung cho các lực lượng canh giữ vùng biên cương xung yếu, các vùng biển và hải đảo những thanh niên ưu tú, có tinh thần tự nguyện, ý chí chiến đấu vững chắc, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, được huấn luyện đầy đủ về các kỹ năng chiến đấu cần thiết.

Củng cố, nâng cao chất lượng đào tạo của hệ thống học viện, nhà trường phù hợp và đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đào tạo ra những sĩ quan có trình độ chỉ huy chiến đấu cao, có đủ khả năng làm chủ vùng biển, đảo, vùng trời, vùng đất của Tổ quốc; có khả năng hợp đồng với sự chi viện của các lực lượng đồng minh, phù hợp với yêu cầu mới của sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường huấn luyện và diễn tập theo phương thức tác chiến bằng vũ khí công nghệ cao, tích cực, chủ động chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể, khoa học, sẵn sàng bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của Tổ quốc trong mọi tình huống.

Đi đôi với chuẩn bị tiềm lực quân sự cho hậu phương quân đội, cần chuẩn bị một cách đồng bộ và có hiệu quả các lĩnh vực bảo đảm như: bảo đảm hậu cần (về lương thực, thực phẩm, vũ khí, trang thiết bị...), bảo đảm thông tin - liên lạc (cả hai hệ thống vô tuyến mật mã và hữu tuyến, quân sự và dân sự), bảo đảm giao thông vận tải (cả hệ thống quân sự và dân sự, trên bộ, trên biển và trên không, Nhà nước và tư nhân), bảo đảm các cơ sở hạ tầng (hệ thống cầu đường, kho trạm, sân bay, bến cảng, các công trình quốc phòng, hầm hào…) cho phòng thủ dân sự.

Chăm lo xây dựng các khu vực phòng thủ trọng điểm quốc gia, các đặc khu cần thiết, phù hợp với yêu cầu phòng thủ biển, đảo, phòng thủ từng vùng, miền trong nước, các khu kinh tế - quốc phòng, quốc phòng - kinh tế gắn với nhiệm vụ biên phòng.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng. Khi cần, chuyển đại bộ phận công nghiệp dân sinh sang phục vụ chiến tranh giữ nước.

Thường xuyên quan tâm xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ quân đội, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Nguồn nhân lực chất lượng cao (thực chất là bộ phận của tiềm lực quân sự) là nguồn bổ sung thường xuyên cho quân đội theo chế độ nghĩa vụ quân sự trong tuyển quân hằng năm, cần được bảo đảm cả về thể lực, trí lực, về trình độ văn hoá. Có thể và cần phải huy động nguồn nhân lực có tay nghề cao ngoài xã hội vào quân đội, bằng cách tuyển vào quân đội những nhân viên kỹ thuật đã làm việc ở các doanh nghiệp dân sự với chính sách phù hợp.

Nguồn nhân lực thích hợp nhất để bổ sung cho quân đội là nguồn nhân lực của lực lượng dự bị động viên, bao gồm những thanh niên, sinh viên đã được huấn luyện quân sự, những dân quân tự vệ đang làm nhiệm vụ quân sự, quốc phòng ở địa phương, khi cần thiết có thể bổ sung cho bộ đội chủ lực từng phân đội của bộ đội địa phương tỉnh, huyện rồi thay thế bằng dân quân tự vệ huy động từ cơ sở xã phường. Trong những tình huống cần thiết, cần chuẩn bị tâm thế cho mọi công dân trong độ tuổi sẵn sàng tham gia quân đội khi đất nước có chiến tranh, theo tư tưởng "tận dân vi binh" của ông cha, khi đất nước phải đương đầu với giặc ngoại xâm.

Xây dựng tiềm lực kinh tế của hậu phương quân đội vững mạnh

Tiềm lực kinh tế là khả năng về kinh tế (bao gồm cả kinh tế quân sự) có thể huy động để phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng hoặc tiến hành chiến tranh.

Tiềm lực kinh tế cho hậu phương quân đội trong tình hình mới cần được huy động đủ đáp ứng cho mọi nhiệm vụ quốc phòng, quân sự thường xuyên và đột xuất; đồng thời, chủ động dự kiến những tiêu hao vật chất phải chấp nhận trong những tình huống phải động viên từng vùng, từng quân, binh chủng. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; góp phần tăng khả năng đẩy lùi chiến tranh xâm lược, để đất nước có thêm thời gian phát triển kinh tế - xã hội, sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Qua đó làm cho tiềm lực kinh tế cho hậu phương quân đội ngày càng lớn mạnh, đủ sức đáp ứng một cuộc cuộc chiến tranh tự vệ có thể diễn ra.

Xây dựng tiềm lực văn hóa của hậu phương quân đội

Trong tình hình mới, tiềm lực văn hoá cần xây dựng cho hậu phương quân đội chính là tinh thần bất khuất, lòng tự hào, tự tôn dân tộc với lịch sử chống ngoại xâm qua hàng ngàn năm dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Hơn lúc nào hết, tinh thần bất khuất ngàn đời của văn hoá Âu - Lạc gắn chặt với chân lý "Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần được thường xuyên bồi dưỡng, quán triệt sâu sắc cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ của hậu phương quân đội

Tiềm lực khoa học - công nghệ phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, quân sự chủ yếu là khoa học - công nghệ - kỹ thuật, nhằm góp phần đắc lực vào công cuộc hiện đại hóa các lực lượng vũ trang, chủ yếu thuộc về các ngành khoa học tự nhiên. Song, tiềm lực khoa học - công nghệ không chỉ bao gồm tiềm lực về khoa học tự nhiên và tiềm lực về công nghệ - kỹ thuật, mà còn bao gồm cả tiềm lực về khoa học xã hội và nhân văn có thể huy động, nhằm giải quyết những nhiệm vụ quốc phòng, quân sự trước mắt và lâu dài. Trong đó, không thể thiếu những đóng góp của các bộ môn khoa học xã hội ngày càng trở nên quan trọng như chính trị học, sử học và lịch sử quân sự, kinh tế học, bao gồm kinh tế quân sự; luật học, bao gồm luật pháp quốc tế (cần thiết cho đấu tranh bằng phương pháp hòa bình), nhằm nâng cao sức mạnh đấu tranh toàn diện của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Tiềm lực khoa học - công nghệ của hậu phương quân đội biểu hiện ở trình độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày càng được nâng cao, kinh tế tri thức được coi trọng và áp dụng ngày càng phổ biến vào sản xuất xã hội, những thành tựu mới của khoa học - công nghệ được đưa nhanh vào sản xuất, nhằm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế, đội ngũ cán bộ khoa học và kỹ thuật được đào tạo và bồi dưỡng một cách có kế hoạch làm nòng cốt cho vai trò then chốt của khoa học - công nghệ trong phát triển lực lượng sản xuất, sớm đưa nước ta thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đồng thời đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học cho mọi nhiệm vụ quốc phòng, quân sự.

Trọng tâm của xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ của nền quốc phòng toàn dân là xây dựng nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, phát triển; khoa học, nghệ thuật quân sự đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quốc phòng, hiện đại hóa quân đội và yêu cầu của chiến tranh nhân dân trong điều kiện hiện đại. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa phải từng bước xây dựng nền công nghiệp quốc phòng hiện đại của đất nước nhằm giải quyết các vấn đề: bảo quản, sửa chữa, cải tiến, sản xuất trang bị, vũ khí kỹ thuật của lực lượng vũ trang phù hợp với điều kiện tác chiến mới, trong các tình huống đấu tranh vũ trang và phi vũ trang./.

Đại tá, PGS. TS. Bùi Đình BônHội đồng Lý luận Trung ương

Video