Thứ Năm, 22/6/2017
Xây dựng Chiến lược kết hợp quốc phòng, an ninh, đối ngoại
15/2/2017 21:24' Gửi bài này In bài này
Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Amy Searight và Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh tại cuộc Đối thoại Chính sách quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ lần thứ 6 tổ chức ở thủ đô Washington, Hoa Kỳ. Ảnh minh họa
Đảng ta khẳng định: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược”(1).

Khi xác định phương hướng, nhiệm vụ, Văn kiện Đại hội XII của Đảng lại nhấn mạnh phải “kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại; tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh” (2). Vì thế, việc xây dựng Chiến lược kết hợp các lĩnh vực nêu trên là rất thiết thực, cụ thể để nâng cao hiệu quả quán triệt Nghị quyết XII của Đảng trong hoạt động thực tiễn.

Từ việc tìm mưu lược, kế sách…

Chúng ta biết rằng, quốc phòng, an ninh, đối ngoại là những lĩnh vực hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ hữu cơ ngày càng gắn bó với nhau nhằm mục tiêu chung là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ an ninh quốc gia, tạo môi trường hoà bình ổn định để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Về bản chất, mối quan hệ này không thay đổi, nhưng về hình thức, nội dung nó đã và đang có nhu cầu đổi mới, phát triển cho phù hợp với mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, phương thức, phương pháp hoạt động của mỗi lĩnh vực trong thời kỳ mới. Vấn đề đặt hiện nay là nhận biết và xử lý mối quan hệ đó như thế nào cho phù hợp và có hiệu quả tổng hợp cao, tạo sự đồng thuận, hướng tới mục tiêu chung là tìm ra mưu lược, kế sách tối ưu nhất cho xây dựng và phát triển quốc gia trong thời kỳ mới đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng hơn, cùng với nền kinh tế tri thức và cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đang hình thành trên thế giới...

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước từ cách đây hàng ngàn năm, ông cha ta không chỉ nhận biết đúng đắn mối quan hệ giữa ba lĩnh vực hoạt động mà còn giải quyết sự kết hợp giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại một cách khôn khéo, hài hoà khi cho rằng, “nghĩ về kế lâu dài của nước ta, tha kẻ hàng mười vạn binh sỹ, sửa hoà hiếu cho hai nước tắt muôn đời chiến tranh, chỉ cần vẹn đất, cốt sao an ninh”(3). Trong kháng chiến chống thực dân, đế quốc, với đường lối chính trị, quân sự, ngoại giao đúng đắn, sáng tạo của Đảng, chúng ta cũng thu hút được sự đồng tình của nhân dân yêu chuộng hoà bình và nhiều quốc gia trên thế giới, gắn kết được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để chiến thắng kẻ thù. Chúng ta đã vận dụng thành công chính sách “vừa đánh, vừa đàm”, kết hợp tiến công địch trên chiến trường với tiến công địch trên bàn đàm phán... đã góp phần quan trọng giành thắng lợi trong chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngày nay, tình hình trong nước, khu vực và thế giới đã có nhiều thay đổi, có những lĩnh vực đã có sự thay đổi căn bản so với vài thập kỷ trước đây. Tuy nhiên, tình hình khu vực và thế giới vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, chứa đựng những nhân tố khó lường. Toàn cầu hoá đang là một xu thế khách quan gắn kết lợi ích của nhiều quốc gia, khu vực; cuộc đấu tranh địa - chiến lược giữa các cường quốc diễn ra quyết liệt trong quá trình “đa cực hóa” thế giới, đang chuyển từ định hướng sang định hình; mâu thuẫn cũng ngày càng gia tăng giữa các nước đang và chậm phát triển với các tập đoàn siêu quốc gia, xuyên quốc đang nắm và chi phối quá trình toàn cầu hoá phục vụ lợi nhuận siêu quốc gia của họ.

Toàn cầu hoá đã, đang và sẽ diễn ra với nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực; vừa có sự hợp tác, vừa có sự cạnh tranh - đấu tranh ngày càng quyết liệt và phức tạp. Trong bối cảnh đó, mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại lại càng gắn bó mật thiết hơn. Giải quyết hài hòa mối quan hệ này đòi hỏi phải có quan điểm và giải pháp đột phá mới phù hợp với mục tiêu tổng quát cũng như mục tiêu của từng lĩnh vực mà Văn kiện Đại hội XII của Đảng nêu ra.

Mục tiêu và phương hướng tổng quát 5 năm (giai đoạn 2016-2021) mà Đại hội XII nêu ra là: “Kế thừa và phát huy những thành tựu, bài học kinh nghiệm của 30 năm đổi mới, nhất là 5 năm gần đây, tiếp tục thực hiện có kết quả các phương hướng, nhiệm vụ đúng đắn đã được đề ra trong các nghị quyết của Đảng, đồng thời đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ, có bước đi phù hợp trên các lĩnh vực, nhất là giữa kinh tế và chính trị. Tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc nhằm khơi dậy mọi tiềm năng và nguồn lực của đất nước, tạo động lực mới cho sự phát triển. Nhận thức đúng và xử lý tốt các nhân tố tạo thành động lực tổng hợp để đổi mới và hội nhập; kết hợp hài hoà các lợi ích; phát huy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc; phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy nhân tố con người, vai trò của khoa học - công nghệ... ”(4), tạo thành động lực tổng hợp để đổi mới và hội nhập.

Như vậy, củng cố tăng cường quốc phòng, an ninh; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là 2 trong 12 nhiệm vụ tổng quát mà Đại hội XII của Đảng đã nêu ra. Do đó, giải quyết mối quan hệ quốc phòng, an ninh và đối ngoại đòi hỏi phải nắm vững nội dung, yêu cầu toàn diện của các mục tiêu, phương hướng và nhiệm vụ tổng quát nêu trên. Trong đó, yêu cầu xuyên suốt là: “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hoà bình, ổn định để phát triển đất nước. Nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”(5).

Mặt khác, khi giải quyết mối quan hệ giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại cần phải nắm vững các mục tiêu của mỗi lĩnh vực cụ thể. Ngày nay, giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại cần được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ các hoạt động xây dựng và đấu tranh giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại như: xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh, xây dựng tiềm lực vật chất của quốc phòng, an ninh và xây thế trận quốc phòng, an ninh; xây dựng nền ngoại giao hòa bình hữu nghị theo chủ trương chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ.

Đồng thời với đấu tranh quốc phòng, an ninh, đấu tranh ngoại giao hướng tới mục tiêu chung là “Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hoá, đa phương hoá trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(6).

Đến những giải pháp chiến lược tổng thể…


Để vận dụng mối quan hệ kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại có hiệu quả, chúng ta có thể và cần phải chủ động đưa các nội dụng, yêu cầu quốc phòng, an ninh, đối ngoại vào các hoạt động hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch của quốc gia.

Hoạch định chiến lược là một mắt khâu rất quan trọng trong quy trình điều hành, quản lý vĩ mô của Nhà nước nhằm cụ thể hoá một bước quan điểm, đường lối của Đảng mà lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhất thiết phải quan tâm, do đó kết hợp phải được thể hiện ngay trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển các lĩnh vực của quốc gia trong cả trung và dài hạn. Nội dung kết hợp quan trọng nhất phải được thể hiện trong quan điểm chiến lược, mục tiêu chiến lược, nội dung và giải pháp chiến lược. Trong đó, nội dung và giải pháp chiến lược có vai trò hết sức quan trọng.

Ngày nay, nước ta đang trong quá trình điều chỉnh và xây dựng các văn bản chiến lược quốc gia như: chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quốc phòng, chiến lược an ninh, chiến lược đối ngoại...; bổ sung và hoàn thiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Đó là điều kiện thuận lợi để đưa những nội dung, yêu cầu kết hợp của quốc phòng, an ninh, đối ngoại vào nội dung các văn bản chiến lược nêu trên.

Đối với chiến lược bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta đã có định hướng quan trọng thể hiện trong Nghị quyết Trung ương 8, khoá IX, nay Nhà nước ta đang trong quá trình triển khai soạn thảo văn bản chiến lược mới có bổ sung từ những bài học rút ra sau 30 năm đổi mới. Do đó, kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại cần phải thể hiện trên các nội dung chủ yếu của văn bản chiến lược như: phát huy sức mạnh tổng hợp của quốc gia, khai thác tối đa nguồn lực hợp tác quốc tế, triệt tiêu nguy cơ gây mất ổn định xã hội, nguy cơ xung đột vũ trang biển đảo, nguy cơ gây chiến tranh của các thế lực bành trướng, giữ vững hoà bình, ổn định và phát triển để thực hiện mục tiêu “dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đối với chiến lược an ninh quốc gia, trong khi điều chỉnh, bổ sung chiến lược cũng cần làm rõ quốc phòng, đối ngoại là một trong những nội dung của chiến lược an ninh quốc gia, việc hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, trong hoạt động xây dựng và đấu tranh giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại đang là nhu cầu cấp bách. Nội dung và phương thức kết hợp cần tập trung vào các lĩnh vực chủ yếu là chống “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, loại trừ nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nguy cơ xung đột vũ trang và phi vũ trang trên Biển Đông.

Cần sớm có chính sách phù hợp để có thể xây dựng lực lượng quốc phòng, an ninh ngay trong các khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, đưa nội dung kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại vào giáo trình giáo dục quốc phòng, an ninh đã được hình thành ở các cấp học, bậc học của quốc gia; phát huy vai trò của đối ngoại quốc phòng - quân sự - an ninh trong hoạt động đấu tranh ngoại giao nhằm vạch trần những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Thông qua bảo đảm an ninh quốc phòng - quân sự, đối ngoại mà góp phần chủ động, tích cực bảo vệ an ninh quốc gia.

Phối hợp chặt chẽ giữa các lĩnh vực hoạt động của cả quốc phòng, an ninh, đối ngoại nhằm triệt tiêu các nguy cơ nảy sinh các “điểm nóng”, các mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố... có thể bị các lực lượng thù địch tạo cớ để gây xung đột vũ trang và phi vũ trang. Sự phối hợp là toàn diện nhưng tập trung vào các hoạt động chủ yếu là xây dựng lực lượng, xây dựng thế trận, phương thức tiến hành đấu tranh thường xuyên và sẵn sàng đối phó thắng lợi khi có các tình huống phức tạp nảy sinh.

Đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp quốc phòng, an ninh, đối ngoại cần tập trung phối hợp trong việc bổ sung, hoàn thiện nội dung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên hai lĩnh vực chủ yếu là đổi mới công nghệ cho toàn bộ các ngành, các lĩnh vực lao động xã hội và cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Những giải pháp chiến lược về kinh tế - xã hội cho đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã được Đại hội XII của Đảng thông qua là những vấn đề hết sức cơ bản, cốt lõi của thời kỳ mới. Việc đưa những nội dung và giải pháp cụ thể: “lưỡng dụng hoá” hay “đa dụng hóa” một số loại sản phẩm, công trình, dịch vụ, nhất là trong xây dựng kết cấu hạ tầng; đưa yêu cầu của quốc phòng, an ninh vào những ngành kinh tế mũi nhọn của quốc gia; đưa yêu cầu và có một cơ chế phối hợp trong phát triển khoa học - công nghệ nhất là lĩnh vực công nghệ cao có khả năng đáp ứng nhu cầu của chiến tranh hiện đại; thông qua cải cách hành chính mà đề xuất yêu cầu nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thông qua quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng thị trường đặc biệt chú trọng các thị trường các nước lớn, các nước phát triển và các thị trường truyền thống mà khai thác nguồn lực kinh tế - quân sự có lợi cho nhu cầu quốc phòng, an ninh; đặc biệt cần bám sát quá trình cơ cấu lại nền kinh tế nhằm đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà điều chỉnh, bổ sung hoặc bố trí lại thế trận quốc phòng, an ninh cho phù hợp.

Đối với chiến lược đối ngoại, cần coi đối ngoại quốc phòng, quân sự, an ninh là một nội dung, một bộ phận trong chiến lược ngoại giao. Cùng với hoạt động ngoại giao nói chung, đối ngoại quốc phòng, quân sự, an ninh cũng cần có những hình thức thích hợp góp phần tiếp tục khẳng định vị thế của Việt Nam về mặt quân sự, quốc phòng, an ninh trong quá khứ và tạo vị thế mới toàn diện của Việt Nam trong thời kỳ mới, đấu tranh cho lợi ích của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế - tham gia các tổ chức quốc tế, xây dựng một nền ngoại giao hoà bình, hữu nghị “là bạn với tất cả các nước” trên nền tảng sức mạnh tổng hợp vừa thể hiện thiện chí, mềm dẻo vừa có tính “răn đe” phù hợp nhằm làm “nản lòng” các lực lượng thù địch đối với nước ta. Lấy mục tiêu cao nhất là loại bỏ nguy cơ xung đột vũ trang, “chiến tranh xâm lấn biển đảo” giữ vững hoà bình ổn định lâu dài để đưa nước ta sớm trở thành nước công nghiệp hiện đại như Nghị quyết Đại hội XII đã nêu ra.

Xây dựng đề án quy hoạch - kế hoạch là mắt khâu thứ hai trong quy trình điều hành, quản lý vĩ mô của Nhà nước nhằm tiếp tục cụ thể hoá quan điểm, đường lối, chiến lược của Đảng và Nhà nước mà bất kỳ lĩnh vực nào bao gồm cả quốc phòng, an ninh, đối ngoại đều phải tuân theo. Do đó, kết hợp cũng cần được thể hiện ngay trong nội dung của từng lĩnh vực nói trên. Trong nội dung các dự án quy hoạch đều phải chứa đựng những yếu tố phản ánh sự kết hợp quốc phòng với kinh tế, an ninh với kinh tế, an ninh - quốc phòng với đối ngoại, đối ngoại với kinh tế... Cho đến nay, ở nước ta sự kết hợp vẫn còn ở dạng chung, vẫn chỉ dừng lại ở việc nêu quan điểm, nguyên tắc, yêu cầu... Do đó, việc triển khai ở cấp độ thấp hơn vẫn còn gặp khó khăn và thiếu hiệu quả.

Từ nay đến năm 2020 song song với quá trình hoạch định và xây dựng các chiến lược, thì việc tiếp tục xây dựng hoàn thiện các đề án quy hoạch phát triển các ngành, các lĩnh vực, các địa phương cũng được tiến hành, tạo thuận lợi cho việc đề xuất những giải pháp chiến lược kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Vì vậy, trong công tác điều chỉnh, bổ sung chiến lược bảo vệ Tổ quốc thì việc xây dựng chiến lược kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại cần được đặc biệt quan tâm.

Trên cơ sở tư duy biện chứng, nắm vững những yêu cầu mới, vận dụng sáng tạo mối quan hệ kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong thời kỳ mới là thiết thực góp phần tạo môi trường hoà bình, ổn định, phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để Nghị quyết của Đại hội XII của Đảng sớm đi vào đời sống thực tế


Một là, cần đẩy mạnh giáo dục toàn dân, trước hết là những cán bộ, đảng viên hoạt động trong các cơ quan hoạch định chiến lược và chính sách phát triển quốc gia về những yêu cầu mới kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại được thể hiện trong Văn kiện Đại hội XII của Đảng, trong đường lối, chủ trương, chính sách của Nhà nước.

Hai là,
cần sớm bổ sung hoàn thiện và ban hành các văn bản chiến lược quốc gia như chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự, chiến lược an ninh, chiến lược đối ngoại, chiến lược kết hợp kinh tế xã hội với quốc phòng, an ninh, đối ngoại và các chiến lược chuyên ngành khác, theo đó quan điểm, yêu cầu, nội dung kết kợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại được thể hiện.

Ba là,
từng bước pháp luật hoá những nội dung, yêu cầu kết hợp quốc phòng, an ninh với kinh tế đã được hiến định tại Điều 68, Chương IV về Bảo vệ Tổ quốc, trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, cần thiết phải bổ sung thêm nội dung đối ngoại để tạo cơ sở pháp lý nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội .

Bốn là, cần sớm xây dựng văn bản chiến lược kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Để khắc phục tình trạng “thiếu những giải pháp chiến lược tổng thể” như Văn kiện Đại hội XII đánh giá thì chúng ta cần khảo sát một cách cơ bản toàn diện thực trạng kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong tình hình hiện nay. Tập trung đánh giá vào các khâu nhận thức, quan điểm và hành động kết hợp, trên cơ sở đó mà đưa ra dự báo yêu cầu kết hợp cho các thời kỳ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; qua đó mà điều chỉnh các chiến lược khác cho phù hợp với chiến lược kết hợp có tính tổng thể hơn sau khi đã được xây dựng xong.

Như vậy, kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại là vấn đề có tính quy luật phổ biến, là truyền thống của dân tộc ta trong quá trình dựng nước và giữ nước. Đảng và Nhà nước ta đã kế thừa những kinh nghiệm truyền thống, quán triệt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo phù hợp với các giai đoạn của cách mạng Việt Nam, nên đã góp phần giành được những thắng lợi to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng, xây dựng và bảo vệ đất nước.

Ngày nay, vấn đề kết hợp - thành quả của sự nghiệp đổi mới đã được Hiến định, là hoạt động có tính đặc thù cao nên việc pháp luật hóa và xây dựng chiến lược là nhu cầu khách quan, nhằm sớm tạo ra những văn bản chiến lược và hành lang pháp lý để Nhà nước ta quản lý, điều hoà, phối hợp, gắn kết các lĩnh vực hoạt động cơ bản của đời sống xã hội ngày càng có hiệu quả cao hơn, nên việc “Xây dựng Chiến lược kết hợp giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại cũng là nhu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu quả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới./.

--------------------------
Tài liệu tham khảo


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội 2016, tr 149

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr 149

(3) Nguyễn Trãi, Toàn tập, Nxb KHXH, Hà Nội, 1996, tr 87

(4) Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, Hà Nội, 2016, tr 75-76

(5) Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, Hà Nội, 2016, tr 76

(6) Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, Hà Nội, 2016, tr 153

Xem thêm: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chương IV, Điều 68
Thanh Anh

Video